Lục hợp như sau: Tý hợp Sửu, Dần hợp Hợi, Mão hợp Tuất, Thìn hợp Dậu, Tị hợp Thân, Ngọ hợp Mùi.
Tương hợp có sáu loại tình huống:
Một, Nhật Nguyệt hợp hào. Nguyệt hợp hào gọi là hợp vượng, rất ít khi dùng để phán đoán ứng kỳ. Nhật hợp hào thì có cát có hung, có hợp tàng sinh cũng có hợp tàng khắc, lại có hợp tàng hình, cát hung cần thẩm Dụng thần. Dự đoán bệnh tật, bệnh mới không nên gặp hợp, Dụng thần gặp hợp, hoặc bệnh nặng lên mà chết, hoặc thành bệnh mãn tính khó trị liệu. Nếu có tha hào xung khai, hợp gặp xung, thì là cát, nếu không trước mắt mặc dù khỏi bệnh, ngày sau chắc chắn sẽ tái phát, hoặc lưu lại di chứng, khó mà trừ tận gốc. Nếu như là bệnh lâu, ngược lại Dụng thần cần gặp hợp, gặp hợp chính là đem mệnh lưu lại, có bệnh tất khỏi bệnh. Nếu như là dự đoán xuất hành, động mà gặp hợp tất có sự tình ngăn trở. Dự đoán người đi đường, lạc đường, Dụng thần động mà gặp hợp, thời điểm gặp xung sẽ về, tĩnh mà gặp Nhật hợp, ngày đó về. Dự đoán hôn nhân, đa số tham luyến, có ngoại tình.
Hai, hào cùng hào hợp. Quẻ có ích thần bị động hào hợp trú, đoán giống như khi hợp Nhật. Nếu nguyên thần phát động mà bị động hào hợp trú, Dụng thần mà tốt thì lúc xung khai hợp là tốt. Nếu là kị thần phát động bị hợp, Dụng thần không tốt, xung khai hợp hào, kị thần như ngựa hoang thoát cương, khắc thương Dụng thần.
Ba, hào động cùng hào biến tương hợp. Tức một hào phát động, hào biến cùng hào động tương hợp.
Bốn, quẻ gặp lục hợp, hoặc quẻ biến lục hợp.
Năm, quẻ lục xung biến quẻ lục hợp.
Sáu, quẻ lục hợp biến quẻ lục hợp.
Cái gọi là quẻ lục hợp như Thiên Địa Bĩ, Sơn Hỏa Bí …, sơ hào cùng hào bốn tương hợp, hào hai cùng hào năm tương hợp, hào ba cùng thượng hào tương hợp. Dự đoán sinh sản, lục hợp là khó sinh, còn lại mọi việc đều cát. Hào tĩnh gặp Nhật hợp gọi là thu về, động mà gặp hợp gọi là ngăn trở. Hợp có hội hợp, gặp nhau, triền miên, ngăn trở, giữ lại, lưu lại, dừng lại, khép lại, nhân tình, hòa hợp rất nhiều hàm nghĩa, vì xem sự tình khác biệt, mà cát hung ứng nghiệm không đồng nhất, cần tinh tế mà xem, lúc lấy Dụng thần làm chủ, lúc lại nhìn hào tương hợp.
Ví dụ 1: ngày Quý Mão tháng Tuất, một nữ sĩ xem em bệnh đã lâu, được quẻ Địa Sơn Khiêm biến Địa Thiên Thái.

Lấy Huynh đệ làm Dụng thần, Dụng thần lưỡng hiện, lấy hào Huynh đệ Dậu kim ám động làm Dụng thần. Bệnh lâu gặp Nhật xung không tốt, nhưng Dụng thần vượng tướng, trong quẻ kị thần quan quỷ Ngọ hỏa mặc dù phát động, nhưng Phụ mẫu Thìn thổ cũng động, thành liên tục tương sinh, lại biến quẻ lục hợp, bệnh lâu thì khỏi bệnh. Trong quẻ không hiện tài, kị thần động hóa Thê tài Dần mộc hồi đầu sinh, hẳn là ăn uống không tốt.
Em trai bệnh dạ dày hơn hai mươi năm, sau đến đi khám bệnh, chuyên gia hội chẩn quyết định Dụng thuốc Đông y trị liệu, cuối cùng khỏi hẳn.
Ví dụ 2: ngày Kỷ Sửu tháng Hợi, một người bạn hỏi bố mẹ đến Hải Nam du lịch cát hung ra sao? Được quẻ Sơn Lôi Di biến Bát Thuần Khôn.

Lấy Phụ mẫu làm Dụng thần. Trong quẻ Phụ mẫu lưỡng hiện, lấy hào Phụ mẫu Tý thủy phát động là Dụng thần. Phụ mẫu Tý thủy được Nguyệt kiến so đỡ là vượng tướng, lâm sơ hào phát động, sơ hào là chân, chính là muốn lên đường. Nhưng Dụng thần cùng Nhật tương hợp, tất có sự tình gì đó vướng chân mà đi không được. Anh ta cũng biết Lục hào nhưng không hiểu sao lại kết luận vậy. Sau bố mẹ quả nhiên vì có việc ngáng trở mà không thể đi. Quẻ này chính là Dụng thần động gặp hợp mà bị ngăn trở.