CHƯƠNG XX: ỨNG KỲ

Cái gọi là ứng kỳ là chỉ thời gian phát sinh cát hung của sự việc sự vật được dự đoán. Ứng kỳ chia làm hai loại, một loại là ứng kỳ quá khứ, một loại là ứng kỳ tương lai. Tỉ như nói dự đoán hôn nhân, phán đoán thời gian kết hôn của người đến xem hay là thời gian phát sinh yêu đương là ứng kỳ quá khứ. Khi dự đoán bệnh tật, phán đoán thời gian nhiễm bệnh cũng là ứng kỳ quá khứ. Phán đoán thời gian phát sinh của sự việc, sự vật trong tương lai, liền là ứng kỳ tương lai.

Xem được chuẩn xác thời gian phát sinh sự tình sẽ khiến người đến xem rất tin tưởng. Đây cũng là điều kiện để có thể hóa giải xu cát tị hung.

Ứng kỳ là một điều rất khó khi dự đoán, nhưng đại bộ phận lại có thể tìm ra quy luật. Ứng kỳ xa gần, phải căn cứ việc cần xem để phán đoán linh hoạt, xa thì lấy năm, tháng mà đoán, gần thì lấy ngày, giờ để đoán.

Phán đoán ứng kỳ thường có các quy luật như sau:

Một, Dụng thần yên tĩnh, lấy địa chi của Dụng thần đại biểu năm, tháng, ngày, giờ làm ứng kỳ, hoặc lấy địa chi xung Dụng thần làm ứng kỳ.

Ví dụ 1: ngày Ất Hợi tháng Hợi, một ông lão tự xem bệnh, được quẻ Phong Hỏa Gia Nhân biến Phong Sơn Tiệm.

Lấy thế làm Dụng thần, hào Thế không được Nhật Nguyệt sinh phù, kị thần độc phát, khắc thế là hung. Dụng thần yếu mà yên tĩnh, sợ nhất xung, sau chết tại ngày Quý Mùi, chính là ứng gặp xung.

Hai, Dụng thần phát động, lấy địa chi của Dụng thần đại biểu năm, tháng, ngày, giờ là ứng kỳ, hoặc lấy địa chi hợp Dụng thần làm ứng kỳ.

Ví dụ 1: ngày Ất Hợi tháng Thìn, một người đàn ông nói có người bạn hẹn đến chơi, mấy giờ thì đến? Được quẻ Lôi Sơn Tiểu Quá biến Lôi Địa Dự.

TUẦN KHÔNG: Thân, Dậu

Lấy Huynh đệ là Dụng thần. Dụng thần lưỡng hiện, lấy Huynh đệ Thân kim phát động làm Dụng. Động cần gặp trị, gặp hợp, lại vì không vong nên ứng thực không, giờ Thân đến. Quả là đến vào giờ Thân.

Ba, Dụng thần hoặc kị thần quá vượng, căn cứ cát hung tình huống, ứng kỳ phán đoán cũng không giống. Dụng thần quá vượng, đoán là tốt thì lấy Dụng thần nhập mộ là ứng kỳ; đoán xấu thì lấy sinh Dụng thần là ứng kỳ. Kị thần vượng thì tương phản. Kị thần nhập mộ hoặc bị khắc là xấu, được sinh ngược lại là tốt.

Chú thích: Đây là dựa theo thuyết vật cực tắc phản để định ra ứng kỳ.

Ví dụ 1: ngày Ất Mão tháng Mão, một phụ nữ xem bệnh của bố được quẻ Thủy Thiên Nhu biến Địa Lôi Phục.

Lấy Phụ mẫu làm Dụng thần, Nhật Nguyệt sinh Dụng thần, phi thần lại động sinh Dụng thần, Dụng thần có sinh không khắc, Dụng thần quá vượng, chết tại ngày Đinh Mão, chính là Dụng thần quá vượng phùng sinh mà hung.

Ví dụ 2: ngày Kỷ Mão tháng Thân, một người xem tuổi thọ, được quẻ Sơn Trạch Tổn biến Địa Lôi Phục.

Lấy hào Thế làm Dụng thần. Hào Thế không được Nguyệt sinh, bị Nhật khắc thương, trong quẻ lại có hai trọng mộc động mà khắc thế, kị thần trùng điệp, đề phòng năm kị thần nhập mộ. Năm Tý xem, sau chết tại năm Mùi.

Bốn, nguyên thần phát động, có khi lấy địa chi của nguyên thần làm ứng kỳ, hoặc địa chi hợp với nguyên thần làm ứng kỳ, nguyên thần Nguyệt phá, không vong, thì thực không, thực phá, xung không, hợp phá là ứng kỳ.

Ví dụ 1: ngày Nhâm Dần tháng Tuất, xem thư tín khi nào đến? Được quẻ Bát Thuần Khảm biến Bát Thuần Đoài.

TUẦN KHÔNG: Thìn, Tị

Lấy Phụ mẫu làm Dụng thần. Dụng thần được Nguyệt sinh phù là vượng, nhưng nguyên thần Quan quỷ Thìn thổ Nguyệt phá, không vong, ngày Giáp Thìn xuất không, thực phá nên ngày Giáp Thìn sẽ đến. Quả là nhận được ngày Giáp Thìn.

Năm, kị thần phát động, thì lại lấy địa chi của kị thần là ứng kỳ, hoặc địa chi hợp kị thần là ứng kỳ.

Ví dụ 1: ngày Tân Tị tháng Tị, một người xem bệnh cho bố được quẻ Thủy Phong Tỉnh biến Địa Phong Thăng.

TUẦN KHÔNG: Thân, Dậu

Lấy Phụ mẫu làm Dụng thần. Dụng thần Nguyệt phá Nhật phá, nguyên thần lại không, kị thần phát động không tốt. Sau chết vào ngày Tuất, chính là ứng ngày trị của kị thần.

Sáu, Dụng thần hưu tù, gặp tuyệt, căn cứ cát hung ứng kỳ không giống. Đoán cát, lấy Dụng thần trường sinh là ứng kỳ, hoặc lấy địa chi của nguyên thần làm ứng kỳ; đoán hung, Dụng thần nhập mộ, gặp xung, bị khắc là ứng kỳ, cũng có khi Dụng thần cực suy, gặp trường sinh là hung.

Ví dụ 1: ngày Ất Dậu tháng Thìn, một phụ nữ xem chồng ngày nào về? Được quẻ Thủy Thiên Nhu biến Phong Thiên Tiểu Súc.

Lấy Quan quỷ làm Dụng thần. Quan quỷ không được Nguyệt kiến sinh phù, bị Nhật khắc thương là hưu tù. Trong quẻ tuy có nguyên thần động sinh phù nhưng vẫn có chút yếu, ngày Hợi Dụng thần lâm trường sinh, ngày Hợi sẽ về. Sau về vào giờ Hợi ngày Hợi.

Ví dụ 2: ngày Đinh Sửu tháng Ngọ, một người đàn ông xem vợ sinh con, được quẻ Thủy Hỏa Ký Tế.

Lấy Tử tôn làm Dụng thần. Tử tôn Mão mộc hưu tù, hưu tù gặp trường sinh, tháng Hợi sinh, sau tháng Hợi sinh một nam hài.

Bảy, Dụng thần nhập mộ, hoặc lấy thời điểm xung mộ là ứng kỳ, hoặc lấy xung Dụng thần là ứng kỳ.

Ví dụ 1: ngày Đinh Sửu tháng Dậu, một phụ nữ xem đồng nghiệp bị bệnh, được quẻ Địa Thiên Thái biến Lôi Trạch Quy Muội.

Lấy hào ứng làm Dụng thần. Dụng thần Tử tôn Dậu kim nhập mộ tại Nhật cùng hào động Huynh đệ Sửu thổ, tháng Mão năm Sửu sẽ khỏe. Quẻ này ứng năm nhập mộ, ứng tháng Dụng thần gặp xung.

Ví dụ 2: ngày Mậu Thân tháng Thân, vợ xem bệnh chồng mới bị được quẻ Thiên Hỏa Đồng Nhân biến Bát Thuần Ly.

Lấy Quan quỷ làm Dụng thần. Dụng thần Quan quỷ Hợi Thủy nhập mộ tại Nhật, ngày Tị khỏi bệnh, chính là ứng Dụng thần xuất mộ gặp ngày xung.

Tám, Dụng thần gặp hợp, hoặc lấy địa chi xung Dụng thần là ứng kỳ, hoặc lấy địa chi xung hợp Dụng thần là ứng kỳ.

Ví dụ 1: ngày Tân Dậu tháng Thìn, một người xem xin giấy phép, được quẻ Thiên Trạch Lý biến Phong Trạch Trung Phu.

Lấy Phụ mẫu làm Dụng thần. Phụ mẫu động hóa hợp. Ngày Tý, Sửu xung khai sẽ làm được. Nhưng Dụng thần không vượng, ngày Tý xung tàng khắc, ngày Sửu phương thành. Sau ngày Ất Sửu xin được.

Chín, nguyên thần động mà gặp hợp, thì lại lấy địa chi xung nguyên thần là ứng kỳ, hoặc lấy địa chi xung hợp nguyên thần là ứng kỳ. Kị thần gặp hợp, thì lại lấy địa chi xung kị thần hoặc xung hợp kị thần là ứng kỳ.

Ví dụ 1: ngày Giáp Ngọ tháng Mùi, xem bệnh của con được quẻ Thiên Trạch Lý biến Phong Trạch Trung Phu

.

Lấy Tử tôn làm Dụng thần. Nguyệt sinh Nhật khắc suy vượng tương đương, nhưng kị thần độc phát. Kị thần động mà hoá hợp, ngày Sửu xung khai hợp thần, Dụng thần nhập mộ tất nguy. Sau chết vào ngày Sửu.

Mười, Dụng thần Nguyệt phá, thì lại lấy thời điểm hợp Dụng thần là ứng kỳ, hoặc lấy địa chi của Dụng thần đại biểu năm, tháng, ngày, giờ là ứng kỳ, hoặc tháng sau là ứng kỳ.

Ví dụ 1: ngày Quý Tị tháng Thìn, Từ tiên sinh xem ngón tay bị đứt vào năm nào? Được quẻ Bát Thuần Khảm biến Phong Thủy Hoán.

Xem tổn thương, lấy hào khắc hào Thế làm Dụng thần, trong quẻ Quan quỷ Tuất thổ cùng Thìn thổ lưỡng hiện, lại đều là hào tĩnh, nhưng Tuất thổ bị Nguyệt kiến xung phá, cho nên lấy hào Tuất thổ Nguyệt phá làm Dụng. Năm Giáp Tuất (năm 1994) làm Quan quỷ Tuất thổ thực phá, đoán năm Giáp Tuất bị đứt ngón tay, quả như chỗ xem.

Ví dụ 2: ngày Kỷ Dậu tháng Tị, một người đàn ông xem vợ sinh con, được quẻ Trạch Địa Tụy biến Trạch Sơn Hàm.

Lấy Tử tôn làm Dụng thần. Tử Tôn Nguyệt phá, tháng Hợi thực phá, tháng Hợi sinh. Sau tại tháng Hợi sinh một bé trai.

Ví dụ 3: ngày Ất Dậu tháng Ngọ, xem sách từ Nhật Bản gửi ngày nào đến? Được quẻ Thiên Lôi Vô Vọng.

TUẦN KHÔNG: Ngọ, Mùi

Lấy Phụ mẫu làm Dụng thần. Phụ mẫu Tý thủy được Nhật sinh phù là vượng, xung khắc hào Thế, chính là vật đến tay ta. Dụng thần Nguyệt phá, hào Thế lại không, đoán tất tại tuần Giáp Ngọ, ngày Canh Tý hoặc Tân Sửu sẽ đến. Sau nhận được vào ngày Tân Sửu, ứng hợp phá.

Mười một, Dụng thần, kị thần, nguyên thần không vong, thì lấy địa chi đại biểu năm, tháng, ngày, giờ là ứng kỳ, hoặc lấy địa chi xung không vong là ứng kỳ.

Ví dụ 1: ngày Kỷ Sửu tháng Thìn, một người đàn ông xem bệnh của con mắc đã lâu thế nào được quẻ Lôi Phong Hằng biến Lôi Sơn Tiểu Quá.

TUẦN KHÔNG: Ngọ, Mùi

Lấy Tử tôn làm Dụng thần. Dụng thần lâm không được Nhật Nguyệt sinh phù, kị thần Hợi Thủy độc phát là không tốt. Dụng thần không vong, con mắc bệnh đã lâu, bệnh lâu gặp không thì chết, Ngọ là tránh không chi địa không bị Hợi Thủy khắc thương, tháng Ngọ xuất không, tất nhiên bị khắc là hung. Kết quả chết vào tháng Ngọ.

Mười hai, Dụng thần bị kị thần khắc, nhưng trong quẻ biểu hiện tốt thì lấy thời điểm kị thần bị khắc là ứng kỳ, hoặc xung kị thần là ứng kỳ.

Ví dụ 1: ngày Nhâm Thân tháng Dần, xem gần đây tài vận như thế nào? Được quẻ Sơn Hỏa Bí biến Sơn Lôi Di.

Lấy Thê tài làm Dụng thần. Trong quẻ Thê tài lưỡng hiện, lấy hào Thê tài Hợi Thủy phát động làm Dụng thần. Dụng thần được Nguyệt hợp vượng, lại được Nhật sinh phù, động mà sinh thế, chính là tượng gần đây được tài, nhưng Dụng thần động mà hóa mộ tại biến hào, lại động hóa hồi đầu khắc, ngày kế tiếp hào biến bị hợp không khắc Dụng thần, giờ Tỵ Dụng thần xung khỏi mộ, có tài, ngày Tuất xung hào biến cũng có tài.

Kết quả ngày hôm sau giờ Tỵ cùng giờ Tỵ ngày Tuất Nhật đều được tiền.

Mười ba, Dụng thần, kị thần phát động hóa tiến thần, lấy địa chi hào động hóa tiến thần là ứng kỳ, hoặc lấy địa chi hợp hóa tiến thần là ứng kỳ. Nếu có một chỗ tương hợp, thì lấy xung khai là ứng kỳ, không vong, thì lại lấy thực không, xung không là ứng kỳ, Nguyệt phá, thì lại lấy hợp phá, thực phá là ứng kỳ.

Ví dụ 1: ngày Quý Mão tháng Sửu, một người xem bệnh cho vợ được quẻ Địa Trạch Lâm biến Địa Thiên Thái.

TUẦN KHÔNG: Thìn, Tị

Lấy Thê tài làm Dụng thần. Quẻ này Dụng thần bị Nguyệt khắc thương, tử tại Nhật, kị thần động mà hóa tiến, Dụng thần có khắc không sinh là không tốt. Hào tiến thần không vong, ngày kế tiếp xuất không, tất hung. Ngày Giáp Thìn vợ chết, đồng thời cũng ứng Dụng thần nhập mộ.

Mười bốn, Dụng thần, kị thần hóa thoái, thì lấy địa chi của thoái thần tức hào biến là ứng kỳ, hoặc lấy địa chi xung hào biến là ứng kỳ, hoặc lấy địa chi hợp hào động là ứng kỳ. Gặp không, gặp phá, phỏng theo tiến thần ứng kỳ pháp tắc.

Ví dụ 1: ngày Ất Hợi tháng Dần, một người đàn ông vì mẹ vợ đã ốm liệt giường liên lụy năm năm nên rất buồn rầu, xem mẹ vợ khi nào mất. Được quẻ Thiên Thủy Tụng biến Trạch Thủy Khốn.

Lấy Phụ mẫu làm Dụng thần, người này xem việc buồn, trong quẻ Tử tôn độc phát, Tử tôn lại là giải ưu chi thần động mà hóa thoái, tháng Mão hợp Tuất thổ không thoái khiến trong lòng vui sướng, ta đoán tháng Mão mẹ vợ hẳn sẽ chết, quả ứng.

Ví dụ 2: ngày Quý Mùi tháng Tuất, một người đàn ông xem bệnh mắc đã lâu, được quẻ Bát Thuần Càn biến Trạch Thiên Quái.

Xem bệnh của mình, lấy hào Thế làm Dụng thần. Quẻ này Dụng thần động mà hóa thoái, người này sau chết vào tháng Sửu chính là ứng tháng xung thoái thần.

Mười lăm, Dụng thần phục tàng, lấy địa chi của Dụng thần là ứng kỳ, hoặc lấy địa chi xung phục thần là ứng kỳ, hoặc lấy địa chi xung phi thần là ứng kỳ.

Ví dụ 1: ngày Ất Dậu tháng Thìn, một nữ tử xem chồng trốn đi ngày nào về? Được quẻ Hỏa Sơn Lữ biến Bát Thuần Cấn.

Lấy Quan quỷ làm Dụng thần. Quan quỷ Hợi Thủy phục tàng tại hào ba Thê tài Thân kim, phục tàng ứng xuất hiện, giờ Hợi ngày Hợi về.

Mười sáu, trong quẻ chỉ có một hào động, gọi là độc phát, một hào độc phát, có đôi khi lấy địa chi của hào độc phát này là ứng kỳ, hoặc lấy địa chi hợp độc phát là ứng kỳ.

Ví dụ 1: ngày Giáp Ngọ tháng Thìn, xem mở lò than được quẻ Phong Hỏa Gia Nhân biến Phong Lôi Ích.

Lấy Thê tài làm Dụng thần, Dụng thần vượng tướng có thể khai thác được than, tháng Thìn năm Hợi bắt đầu khai thác được than, ứng độc phát.

Mười bảy, trong quẻ có năm hào động, chỉ có một hào tĩnh, gọi là độc tĩnh. Có đôi khi lấy hào độc tĩnh là ứng kỳ.

Ví dụ 1: ngày Canh Tuất tháng Dần, xem bệnh của con gái được quẻ Hỏa Thủy Vị Tế biến Thủy Sơn Kiển.

Đây là quẻ độc tĩnh, con gái anh ta ngày Dần khỏi bệnh, là ứng độc tĩnh.

Mười tám, kị thần trì Thế phát động hóa ra hào biến có cùng lục thân giống với Dụng thần, đa phần lấy hào Thế, hào biến là ứng kỳ.

Ví dụ 1: ngày Quý Dậu tháng Thìn, một người hỏi đề xuất xin đơn vị cấp nhà ở có được không? Được quẻ Phong Lôi Ích biến Thiên Hỏa Đồng Nhân.

Lấy Phụ mẫu làm Dụng thần. Phụ mẫu được Nhật sinh phù là vượng tướng, hào Thế là người hỏi quẻ động hóa Phụ mẫu, chính là tượng bản thân và nhà ở có duyên, tháng Hợi sẽ được. Sau xin được cấp nhà vào tháng Hợi.

Ví dụ 2: ngày Bính Thân tháng Tị, xem tài vận, được quẻ Hỏa Thủy Vị Tế biến Hỏa Phong Đỉnh.

Lấy Thê tài làm Dụng thần, kị thần Huynh đệ trì Thế động mà hóa Thê tài Dậu kim, ngày Dậu sẽ được tài.

Ví dụ 3: ngày Mậu Ngọ tháng Thân, xem ngày nào có thể gặp bố, được quẻ Phong Lôi Ích quẻ biến Phong Hỏa Gia Nhân.

Lấy Phụ mẫu làm Dụng thần, kị thần Thê tài trì Thế, động mà hóa Phụ mẫu, ngày Hợi bố sẽ đến.

Mười chín, Dụng thần phát động hóa không, hóa phá, đa phần lấy hào biến là ứng kỳ.

Ví dụ 1: ngày Mậu Tý tháng Mão, một viên chức công ty bảo hiểm xem tài vận gần, được quẻ Địa Lôi Phục biến Bát Thuần Khôn.

TUẦN KHÔNG: Ngọ, Mùi

Lấy Thê tài làm Dụng thần. Quẻ bên trong Thê tài lưỡng hiện, lấy hào Thê tài Tý thủy phát động làm Dụng thần. Dụng thần trì Thế, lâm Nhật sắp tới nhất định có tiền. Ngày nào có? Dụng thần động mà hóa không, xuất không sẽ có.

Quả nhiên tại ngày Ất Mùi đàm phán thành công một hợp đồng bảo hiểm, được sáu ngàn nguyên.

Các pháp tắc bên trên chỉ đơn giản là một chút quy nạp các dạng ứng kỳ thường gặp mà thôi. Ứng kỳ có đôi khi căn cứ vào các nội dung dự đoán khác biệt mà phương pháp rút ra ứng kỳ cũng có chỗ khác biệt. Tỉ như dự đoán hôn nhân, có đôi khi lấy Phụ mẫu để phán đoán ứng kỳ. Khi dự đoán sinh con, có đôi khi lấy thai, dưỡng địa của hào Tử tôn để làm ứng kỳ. Dự đoán về người đi đường, Dụng thần tĩnh mà hợp Nhật, thì ngày đó về, Dụng thần nhập mộ tại Nhật, cũng về ngày đó. Tóm lại, cần tự mình trường kỳ tích lũy, cẩn thận phán đoán mới có thể phán đoán chuẩn xác.

Chú thích: Tất cả các ví dụ về pháp tắc đoán ứng kỳ nêu trên đều chỉ đơn giản nói về ứng kỳ mà bỏ qua phần luận về cát hung của sự việc. Do đó, trong chương này chỉ nêu đơn giản về cách xác định ứng kỳ, các dịch hữu mới nghiên cứu chớ nên nhầm lẫn mà rập khuôn. Đầu tiên phải xác định cát hung của Dụng thần tức xem chiều hướng của việc cần hỏi, sau đó mới dựa vào cát hung để đoán ứng kỳ. Chỉ có phán đoán được chính xác cát hung mới tìm được pháp tắc về ứng kỳ (hoặc thậm chí tự sáng tạo ra pháp tắc) để phán đoán.

Mục lục sách

Mục lục chương

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *