CHƯƠNG XXXI: DỰ ĐOÁN BỆNH TẬT

Y học vô luận phát triển như thế nào cũng không có khả năng diệt trừ hết tất cả bệnh tật trên thế giới. Căn cứ nghiên cứu mới nhất thì bệnh tật có mối quan hệ rất lớn đến gen. Nói cách khác, con người từ khi sinh ra đã tàng ẩn bệnh tật hoặc số mệnh đã chú định như vậy. Như vậy không phải nói người có bệnh không cần phải trị liệu? Cái này chỉ nói lên quan niệm về số mệnh. Mục đích dự đoán là để cải biến, chính là nắm chắc vận mệnh. Con người là một bộ phận của vũ trụ, cùng vũ trụ có một quy luật phát triển nhất định, nhưng ở trình độ nào đó lại có thể cải biến đôi chút. Đây mới là ý nghĩa của dự đoán học. Nếu không, dù dự đoán hay không, sự vật vẫn vận hành theo quỹ tích ban đầu và không thể thay đổi thì dự đoán chẳng có giá trị gì. Bệnh tật có thể cải biến, cho nên mới có bệnh viện, dự phòng cùng trị liệu bệnh tật.

Lục hào tại phương diện dự đoán bệnh tật, mỗi lục thân đều có rất nhiều hàm nghĩa. Lấy Quan quỷ là bệnh, Tử tôn là y dược, Thê tài là ăn uống, Phụ mẫu là tuổi thọ, Huynh đệ là lực cản. Nhưng đây là cổ nhân dùng quá máy móc, căn bản không thích ứng được với hiện đại. Những hàm nghĩa cứng nhắc này khiến xác suất dự đoán đúng giảm đi rất nhiều. Dự đoán bệnh tật là quay chung quanh Dụng thần cát hung đến tiến hành phán đoán, mà bệnh chứng phán đoán cũng là lấy Dụng thần làm trung tâm mới có xác suất đúng cao.

Dự đoán bệnh tật, căn cứ người đến xem không giống nhau, Dụng thần cũng không giống. Dụng thần thủ pháp tham khảo chương Dụng thần. Dự đoán trọng yếu nhất chính là bệnh nhân cát hung, tiếp theo mới là ứng kỳ, chứng bệnh cùng nguyên nhân bệnh.

◎ bệnh lâu, gặp Dụng thần không vong, Dụng thần bị xung, chủ quẻ lục xung, quẻ biến lục xung là xấu. Lục hợp thì tốt. Tương phản, bệnh mới Dụng thần không, động mà hóa không, đều là cát tượng. Ngộ hợp, quẻ lục hợp thì không tốt. Bệnh gần là trong vòng ba tháng, bệnh lâu là ba tháng trở lên.

◎ Dụng thần được Nhật Nguyệt sinh phù, tỷ hòa là cát, nhưng cũng không thể quá vượng, vật cực tất phản, quá vượng cũng là xấu. Quá vượng, Nhật Nguyệt đều cùng ngũ hành với Dụng thần, hoặc sinh phù Dụng thần, mà trong quẻ lại có hai hào trở lên giúp đỡ Dụng thần, hoặc Dụng thần đa hiện, không có kị thần khắc chế, tức là quá vượng.

◎ Dụng thần vượng tướng, được tha hào sinh phù là cát. Nhưng nếu Dụng thần hưu tù không có rễ, dù cho có hào động tới sinh thì cũng như cây không rễ, sinh phù không dậy nổi.

◎ kị thần phát động là không tốt, nhưng nguyên thần đồng thời phát động, thì không sao, có thể chuyển hung là cát.

◎ Dụng thần nên hóa tiến thần, hóa hồi đầu sinh, kị thần nên hóa thoái thần, hóa hồi đầu khắc.

◎ quẻ gặp phản ngâm, phục ngâm là không tốt.

◎ Dụng thần nhập mộ tại Quan quỷ là không tốt. Xem bệnh mình, thế Lâm Quan quỷ, hưu tù nhập mộ cũng không tốt.

◎ Dụng thần hưu tù, động mà hóa Quan quỷ là hung.

◎ bệnh cát hung chủ yếu là nhìn Dụng thần suy vượng, bệnh chứng phán đoán thì phải nhìn quẻ cung, ngũ hành, hào vị, lục thần.

◎ Thủy chủ thận, tai, bàng quang. Mộc chủ gan, ruột, thần kinh. Hỏa chủ tim, huyết dịch, mắt, ruột non. Kim chủ phổi, xương cốt, đại trang. Thổ chủ tỳ, dạ dày, làn da.

◎ Càn cung chủ đầu, phổi, đại tràng. Khôn cung chủ Tỳ vị, bụng, da thịt. Chấn cung chủ gan mật, thần kinh, chân. Tốn cung chủ gan mật, đùi, trúng gió. Khảm cung chủ tai, bàng quang, thận, cao huyết áp, bí nước tiểu. Ly cung chủ tâm tạng, mắt, huyết dịch, ruột. Cấn cung chủ Tỳ vị, tay, bả vai, mũi. Đoài cung chủ khoang miệng, phổi, ruột, dạ dày.

Ví dụ 1: ngày Canh Thìn tháng Tý, một phụ nữ gọi điện thoại xem bệnh của mình, được quẻ Địa Sơn Khiêm biến Lôi Địa Dự.

Lấy hào Thế làm Dụng thần. Trong quẻ Sửu thổ phát động hóa Quan khắc thế, là ngày Sửu nhiễm bệnh. Quẻ tại Đoài cung chủ khoang miệng. Tử tôn Hợi Thủy lâm hào năm gặp Câu Trần, hẳn là yết hầu phát sưng. Tài không hiện lên quẻ, phục dưới hào hai Quan quỷ, tài chủ ăn uống. Quan quỷ chủ tật bệnh, là có bệnh mà không thể ăn cơm. Tử tôn là y dược, là thủy, chủ truyền dịch. Hào hai Quan quỷ lâm Huyền Vũ, hào hai chủ bộ phận sinh dục, Quan quỷ chủ bệnh, Huyền Vũ chủ bệnh khó nói. Thế lâm Câu Trần, chủ khối u, là có u tử cung. Nhưng Quan quỷ lâm Nguyệt phá, đã cắt bỏ. Nguyên thần Thân kim tuần không, bệnh gần gặp không thì khỏi bệnh, ngày Thân sẽ tốt.

Người phụ nữ này vì cổ họng sưng đau không thể nuốt, trong nhà truyền dịch, ngày Sửu Nhật nhiễm bệnh, ngày Thân khỏi bệnh, đã từng phẫu thuật u tử cung.

Ví dụ 2: ngày Nhâm Ngọ tháng Tý, một người đàn ông hỏi bệnh của bố đã lâu, được quẻ Thủy Hỏa Ký Tế biến Phong Lôi Ích.

TUẦN KHÔNG: Thân, Dậu

Lấy Phụ mẫu làm Dụng thần. Dụng thần Phụ mẫu Thân kim hưu tù, lâm tử tại Nguyệt kiến, bị Nhật thần Ngọ hỏa khắc thương, lại trị tuần không, bệnh lâu gặp không thì chết. Quẻ thuộc Khảm cung, Khảm chủ thận, bàng quang. Hào ba Huynh đệ Hợi Thủy là bệnh địa của Dụng thần, động mà hóa xuất Quan quỷ Thìn thổ, thủy chủ nước tiểu, Thìn thổ là đập chứa nước, là bộ phận tích súc nước tiểu, nói rõ bệnh tại bàng quang. Dụng thần lâm Câu Trần, chủ khối u, cho nên là ung thư bàng quang. Thê tài Nguyệt phá, không hiện lên quẻ, bệnh nhân ăn uống rất kém. Hào sáu Huynh đệ Tý thủy lâm Nguyệt hóa Tử tôn Mão mộc, Huynh đệ chủ tốn kém, dùng tiền, Tử tôn chủ y dược, nói rõ đã tốn không ít tiền trị liệu. Trong quẻ Huynh đệ hào hai động, huynh động bệnh khó hết, hào sáu Huynh đệ Tý thủy lâm Bạch Hổ phát động, Tý là tử địa của Dụng thần, Bạch Hổ chủ tang, năm Tý đề phòng bất lợi.

Tháng Tị năm Bính Tý người bố qua đời vì ung thư bàng quang. Ứng tháng Tị là do Dụng gặp hình khắc.

Ví dụ 3: ngày Ất Mão tháng Mão, một phụ nữ vì người nhà gọi điện thoại nói bố bệnh tình nguy kịch về nhà ngay, trước khi về có đến xem được quẻ Thủy Thiên Nhu biến Địa Lôi Phục.

TUẦN KHÔNG: Tý, Sửu

Lấy Phụ mẫu làm Dụng thần. Dụng thần Phụ mẫu Tị hỏa không hiện lên quẻ, phục dưới hào hai Quan quỷ Dần mộc, hào hai là nhà, Dụng phục bên dưới, nói rõ phụ thân vì bị bệnh nằm trên giường ở nhà. Dụng thần được Nhật Nguyệt sinh phù, lại có phi hào động mà sinh phù, có sinh không khắc là quá vượng. Quẻ nội phục ngâm, bệnh nhân nằm trên giường phi thường thống khổ. Quẻ gặp du hồn, bệnh nhân ý thức như có như không, sinh mệnh hấp hối.

Dụng lâm Tị hỏa, vượng mộc sinh trợ, lại gặp Chu Tước, là chứng nhiệt. Trong quẻ Dần mộc động mà sinh Dụng, nổi bệnh tại lập xuân (lập xuân là tháng Dần bắt đầu). Hào năm Huynh đệ Tuất thổ là mộ khố của Dụng thần. Dụng thần quá vượng cần mộ khố cất giữ, hỏa khí tất từ đây xuất, mới có thể làm giảm bệnh tình. Thổ là cái mũi, lâm Bạch Hổ động mà hóa xuất Thê tài Hợi Thủy, Tài chủ huyết dịch, Bạch Hổ cũng chủ máu, nhất định chảy máu mũi. Nhật Nguyệt hợp ở mộ khố, hỏa không thể giảm. Trong quẻ hào ba Huynh đệ Thìn thổ động mà xung khai hỏa khố Tuất thổ, Thìn thổ tức là hỉ thần. Thìn thổ hưu tù, bị Nhật Nguyệt hào động tam trọng Quan quỷ khắc chế, hào ba là bụng, quẻ tại Khôn cung cũng chủ bụng, lâm Câu Trần bụng tất sưng.

Hào hai Quan quỷ tuy là nguyên thần, nhưng Dụng thần quá vượng, không thích sinh trợ, nguyên thần cũng thành cừu địch. Hào hai mà bộ phận sinh dục, lâm Chu Tước, tiểu tiện đỏ vàng. Trong quẻ hai hào Huynh động, Thê tài Tý thủy tuần không, ăn uống không vào. Quẻ gặp du hồn, đa phần chủ quên, đầu óc mơ hồ không nhớ được gì. Tử tôn Thân kim trì Thế, tự mình dùng thuốc, tất điều trị ở nhà, nhưng hưu tù bất lực, hiệu quả không tốt. Quẻ biến lục hợp bệnh gần không nên, bệnh gần gặp hợp hẳn phải chết. Hôm nay rất xấu, nếu như giờ Dậu xung khai hợp khố Mão mộc, liền có thể giải nguy. Nhưng tuần tiếp theo, Tuất thổ tuần không, khả năng chế Hỏa lực đại giảm, lại gặp ngày Đinh Mão hợp Tuất thổ sinh trợ Dụng thần, tất nguy.

Quẻ nội phục ngâm, bệnh nhân không nên di chuyển chỗ ở, trong quẻ mộc động nhóm lửa, Tử tôn là kim nhưng khắc nguyên thần, trên thân nếu như mang theo tượng đồng, hoặc mang đồ trang sức, hoặc uống hoàng kim canh có lẽ có thể cứu. Thê tài là ăn uống lại tuần không, phải tránh uống thuốc bổ trợ Mộc sinh Hỏa.

Bệnh của bố cô ta quả như chỗ xem, chảy máu mũi, trong bụng như có lửa đốt khó chịu, trong nhà gọi điện thoại tới nói bệnh nhân đã bất tỉnh nhân sự, quan tài cùng áo liệm đều chuẩn bị xong, nhanh trở về. Cô này sau khi trở về, ban đêm ông bố lại tỉnh lại, cô ta đưa ra một tượng phật nhỏ bằng đồng để bố mang bên người nhưng bố cô ta không đồng ý. Vì chiếu cố bệnh nhân thuận tiện, anh cô đem bố về nhà mình. Về sau bố cô vì bệnh tật tra tấn không chịu nổi, từng nuốt một chiếc nhẫn vàng tự sát, chiếc nhẫn kẹt tại yết hầu không thể đi xuống, bị người phát hiện lấy ra. Đến ngày Đinh Mão, chị dâu cô muốn cho bệnh nhân uống đường glu-cô bị cô này ngăn cản, không cho uống, nhưng chị dâu nói vì bệnh nhân lâu không ăn uống được gì, giờ nên tẩm bổ một chút và bệnh nhân ở bệnh viện cũng dùng đường glu-cô mà không có việc gì. Thế là để bố uống. Sau khi uống, trong bụng nóng rực khó chịu, toàn thân phát sốt, liền cởi sạch quần áo nhảy vào nước cũng không đỡ, cùng ngày qua đời.

Ví dụ 4: ngày Đinh Sửu tháng Tuất, vợ của người bạn đột nhiên té xỉu, bệnh viện chẩn đoán là bướu não, dự định ngày hôm sau giải phẫu, hỏi xem bệnh mình, ta gieo được quẻ Sơn Thủy Mông biến Bát Thuần Khôn.

Lấy hào Thế làm Dụng thần. Tử tôn trì Thế lâm Bạch Hổ, Bạch Hổ chủ máu, cùng Tử tôn tương hợp tức là mạch máu. Kị thần tại hào sáu phát động khắc hào Thế, Dần mộc lại là bệnh địa của hào Thế, cho nên lấy Phụ mẫu Dần mộc là bệnh để xem. Hào sáu là đầu, chính là mạch máu đầu có vấn đề, không phải bướu não. Kị thần động hóa hồi đầu khắc, bệnh không sao. Ngày hôm sau kiểm tra lần nữa trước khi giải phẫu thì phát hiện không phải bướu não mà là mạch máu bị tắc, lấy máu ra thì khỏi bệnh.

Ví dụ 5: ngày Đinh Sửu tháng Tuất, vợ xem đồng nghiệp bị bệnh, được quẻ Bát Thuần Chấn biến Lôi Hỏa Phong.

Lấy hào Ứng làm Dụng thần. Ứng lâm Đằng Xà Nguyệt phá, thổ là dạ dày, hào ba cũng là hào vị dạ dày, Đằng Xà chủ đồ vật nhỏ bé, nơi này có thể hiểu thành niêm mạc dạ dày, cho nên đoán làm niêm mạc dạ dày nát rữa. Thìn thổ Nguyệt phá, năm Canh Thìn thực phá, đoán năm 2000 bắt đầu bị bệnh. Dụng thần được Nhật tỷ hòa, sang tháng liền đỡ.

Quả nhiên ứng nghiệm. Năm Canh Thìn uống quá nhiều rượu mà bị bệnh.

Ví dụ 6: ngày Nhâm Ngọ tháng Tuất, một nữ tử Nhật Bản xem bệnh, được quẻ Hỏa Phong Đỉnh biến Thủy Thiên Nhu.

Lấy hào Thế làm Dụng thần. Hào Thế tại hào hai, bị Nguyệt khắc thương, lại bị hào động Tử tôn Mùi thổ cùng Tử tôn Sửu thổ khắc chế, may có nguyên thần phát động giải cứu, sơ hào Sửu thổ lại bị hào biến hợp, tham hợp quên khắc, bệnh có khả năng trị liệu. Hào hai là tử cung, đoán có u tử cung. Đề nghị đến bệnh viện kiểm tra, sau tra ra u tử cung, tiến hành giải phẫu.

Ví dụ 7: ngày Quý Mùi tháng Tuất, Mao tiên sinh hỏi bố một người vì bị tai nạn xe cộ nằm viện, cát hung như thế nào? Được quẻ Sơn Trạch Tổn biến Địa Trạch Lâm.

Lấy Phụ mẫu làm Dụng thần, Dụng thần không được Nhật Nguyệt sinh phù, nguyên thần mặc dù phát động, nhưng cũng không được Nhật Nguyệt sinh phù, lại nhập mộ tại Nhật, lại động hóa hồi đầu khắc không tốt. Dụng thần nhập mộ tại Nguyệt, chính là tượng hôn mê. Tháng này Dụng thần không bị khắc còn không sao, chờ đến tháng Hợi, Dụng thần Phụ mẫu Tị hỏa bị xung khắc, nguyên thần Dần mộc lại bị hợp, không thể sinh Dụng thần, tất hung. Kết quả chết vào tháng Hợi.

Ví dụ 8: ngày Giáp Dần tháng Tý, một người phụ nữ xem sức khỏe, được quẻ Hỏa Phong Đỉnh biến Bát Thuần Ly.

Lấy hào Thế làm Dụng thần. Hào Thế được Nguyệt kiến tỷ hòa là vượng, cho nên không có bệnh gì nguy hiểm. Nguyên thần là Tài, đại biểu huyết dịch, nhập mộ tại Tử tôn Sửu thổ, sinh thế lực lượng yếu bớt, nói rõ cung cấp máu không đủ, thiếu máu. Thế tại hào hai động hóa hồi đầu khắc, hào hai là tử cung, có bệnh phụ khoa. Nhưng hào biến bị Nhật thần khắc chế, không tính rất nghiêm trọng. Quả như chỗ xem.

 

Mục lục sách

Mục lục chương

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *