Phi thần, phục thần

Có khi trong quẻ không có lục thân cần lấy làm Dụng thần, loại hiện tượng này trong Lục hào gọi là Dụng thần không xuất hiện. Dụng thần không xuất hiện cần tìm phục tàng. Vì bản cung (tức thủ quẻ mỗi cung) đều đủ lục thân, nên tất cả quẻ trong cung đều từ bản cung diễn biến mà ra, bởi vậy không có Dụng thần liền có thể tìm từ bản cung. Như vậy Dụng thần gọi là phục thần hoặc phục hào, bản cung Dụng thần tại hào thứ mấy, Dụng thần liền phục ở dưới hào đó, đem phục thần tại chủ quẻ viết bên cạnh hào tương ứng, hào phía trên phục thần trong quẻ chủ được gọi là phi thần hoặc phi hào. Quan hệ sinh khắc của Phục thần và phi thần là rất trọng yếu, cũng là một trong những căn cứ dùng để phán đoán sự việc cát hung. Bình thường mà nói, phi tới sinh phục gọi là được trường sinh, chủ tốt. Phục đi sinh phi gọi là tiết khí, không tốt, phục khắc phi gọi là xuất bạo, là tốt, phi khắc phục gọi là tổn hại sức khoẻ xấu nhất. Dụng thần phục tàng có cát có hung, nếu như phục thần vượng tướng, được Nhật Nguyệt, hào động, phi hào sinh phù, Nhật Nguyệt, hào động xung khắc phi thần (phi thần mà sinh phục thần thì không nên), hoặc phi thần hưu tù, không phá, mộ tuyệt, phục sẽ hiện, chủ tốt. Có khi phi thần còn là căn cứ tham khảo nguyên nhân sự việc cần xem. Nếu phục thần hưu tù vô khí, bị Nhật Nguyệt hào động phi thần xung khắc, Nguyệt phá tuần không, không có nguyên thần cứu trợ, thì là xấu. Cầu tài, tài không được; cầu quan, quan chẳng xong; cầu bệnh, bệnh khó lành.

Ví dụ 1: ngày Ất Hợi tháng Mùi, một người đàn ông xem khi đi taxi có để quên 1 bộ tranh chữ ở trên xe, số xe cũng không có nhớ, có lấy lại được bộ tranh chữ đó hay không? Gieo được quẻ Lôi Địa Dự biến Hỏa Địa Tấn.

Phụ mẫu là văn thư, tranh chữ, lấy Phụ mẫu là Dụng thần. Trong quẻ không có hào Phụ mẫu nên cần tìm phục thần. Quẻ Lôi Địa Dự là Chấn cung quẻ, Bát Thuần Chấn sơ hào là Phụ Mẫu Tý thủy, cho nên quẻ này phục thần cũng là Phụ mẫu Tý thủy, lại nằm ở sơ hào, hào Thê tài Mùi thổ là phi thần. Dụng thần phục tàng, chính là tranh chữ bị mất. Dụng thần Phụ mẫu Tý thủy bị Nguyệt kiến khắc, Nhật thần tỷ hòa, suy vượng tương đương. Nhưng trong quẻ Thê tài Tuất thổ phát động khắc Dụng thần, đồng thời lại là phi tới khắc phục, phục thần khó xuất, khắc nhiều sinh ít, tranh chữ rất khó mà tìm về.

Ví dụ 2: ngày Tân Dậu tháng Hợi, một phụ nữ xem cửa hàng làm ăn như thế nào? Gieo được quẻ Thủy Lôi Truân.

Làm ăn là cầu tài, cho nên lấy Thê tài làm Dụng thần. Trong quẻ này không có Thê tài nên cần tìm phục thần, từ bản cung Bát Thuần Khảm thấy được Thê tài Ngọ hỏa tại hào ba, cho nên quẻ này Dụng thần liền nằm ở hào ba, Thê tài Ngọ hỏa là phục thần, hào Quan quỷ Thìn thổ là phi thần.

Phục thần Thê tài Ngọ hỏa, bị Nguyệt kiến Hợi Thủy khắc, lại không được Nhật thần sinh phù, nên hưu tù. Phục thần sinh phi thần, cửa hàng làm ăn hao phí rất nhiều tiền tài, Dụng thần không hiện lên quẻ, chính là không có tin tức lợi ích.

Quả nhiên kinh doanh đình trệ, trừ tiền thuế và tiền thuê nhà cơ hồ chẳng còn tý lợi nhuận nào, sau đành phải đóng cửa ngừng kinh doanh.

Ví dụ 3: ngày Giáp Tý tháng Mão, một phụ nữ xem công việc, được quẻ Phong Lôi Ích.

Lấy Quan quỷ làm Dụng thần, Quan quỷ Dậu kim không hiện lên quẻ, phục dưới hào ba Thê tài Thìn thổ. Ví dụ này mặc dù là phi tới sinh phục, nhưng Nhật Nguyệt tác dụng đến Dụng thần trọng yếu hơn. Nguyệt kiến xung Dụng thần là Nguyệt phá, là một loại tin tức bất lợi, Nhật thần lại không sinh phù Dụng thần, Dụng thần phục tàng, chính là không tìm được việc làm, không có công việc.

Quả nhiên là mất việc, thất nghiệp ở nhà.

Mục lục sách

Mục lục chương

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *