Lục thân là chỉ Huynh đệ, Phụ mẫu, Quan quỷ, Thê tài, Tử tôn. Đây là đem sự tình lục thân quan hệ đặt vào bên trong quẻ, dùng phương pháp loại suy sự vật sinh khắc chế hóa. Bởi vậy, lục thân có thể bao hàm rất nhiều ý tứ, không thể chỉ từ mặt chữ mà lý giải, chúng ta có thể đem nó coi như là một loại Lục hào dự đoán danh hiệu.
Mỗi hào vị nạp lục thân cùng lục thân trong quẻ biến đều là căn cứ chỗ nạp địa chi ngũ hành cùng chủ quẻ quẻ cung thuộc tính ngũ hành quan hệ sinh khắc mà quyết định. Trong Lục hào, hào có địa chi giống thuộc tính ngũ hành của cung thì xưng là "Ta", dùng Huynh đệ đến biểu thị, sinh ra ta dùng Phụ mẫu biểu thị, khắc ta dùng Quan quỷ biểu thị, ta sinh dùng Tử tôn biểu thị, ta khắc dùng Thê tài biểu thị. Trên thực tế, thường thường đem huynh đệ viết tắt thành Huynh, Phụ mẫu viết tắt thành Phụ, Quan quỷ viết tắt thành Quan hoặc Quỷ, Tử tôn viết tắt thành Tử, Thê tài viết tắt thành Tài.
Muốn sắp xếp lục thần một quẻ, đầu tiên phải biết quẻ thuộc cung nào. Chúng ta đã học được "Hào biến pháp An Thế ứng tìm cung quyết", liền có thể dễ dàng tìm ra quẻ thuộc về cung nào, tìm ra chủ quẻ thuộc về cung nào thì có thể căn cứ vào thuộc tính ngũ hành cùng nạp chi Ngũ Hành sinh khắc quan hệ phối hợp lục thân.
Ví dụ Thủy Phong Tỉnh: Thuộc Chấn cung, thuộc tính ngũ hành là Mộc. Thủy Phong Tỉnh sơ hào là Sửu thổ, lấy Mộc là "Ta", ta khắc người, cho nên phối Thê tài; hào hai là Hợi Thủy, là sinh ra ta, phối Phụ mẫu; hào ba Dậu kim, là khắc ta, phối Quan quỷ; hào bốn Thân kim, cũng là khắc ta người, phối Quan quỷ; hào năm Tuất thổ, là ta khắc, phối Thê tài; hào sáu Tý thủy, là sinh ta phối Phụ mẫu. Quẻ này phối hợp lục thân liệt thức như sau.
Nếu như một quẻ đã có chủ quẻ lại có quẻ biến, thuộc tính ngũ hành của lục thân trong quẻ biến cùng lục thân chủ quẻ là giống nhau, chủ quẻ trung kim là Phụ mẫu, quẻ biến trung kim vẫn như cũ là Phụ mẫu, như chủ quẻ trung kim là Quan quỷ, quẻ biến trung kim cũng là Quan quỷ. Vô luận quẻ biến biến nhập cung nào, khi lắp lục thân, cung thuộc tính đều xác định theo chủ quẻ.
Ví dụ Thủy Trạch Tiết biến Thủy Địa Tỉ, chủ quẻ Thủy Trạch Tiết thuộc Khảm cung, thuộc tính ngũ hành là thủy. Sơ hào Tị hỏa là ta khắc, phối Thê tài; hào hai Mão mộc, là ta sinh phối Tử tôn; hào ba Sửu thổ, là khắc ta, phối Quan quỷ; hào bốn Thân kim, là sinh ta phối Phụ mẫu; hào năm Tuất thổ, là khắc ta, phối Quan quỷ, hào sáu Tý thủy, là tương đồng với ta, phối Huynh đệ. Quẻ nội Đoài biến Khôn, sơ hào cùng hào hai phát động. Sơ hào Tị hỏa phát động biến xuất Mùi thổ, là khắc ta, phối Quan quỷ, hào hai Mão mộc phát động biến xuất Tị hỏa là ta khắc, phối Thê tài. Chủ quẻ quẻ biến phối lục thân như sau:
Trong Lục hào, thông thường chỉ coi trọng tác dụng sinh khắc của hào biến đối với bản vị hào (tức hào động), bởi vậy, thế ứng của quẻ biến ở hào khác nhưng giảm bớt không viết, chỉ coi trọng hào biến là đủ.