Chương 2: Cơ sở chọn ngày lành

Cơ sở chọn ngày lành bao gồm “Thiên can học” và “Khóa cơ bản chọn ngày lành tu sửa” – hai loại kiến thức bắt buộc phải học. Kiến thức về can chi chủ yếu gồm Thiên can, Địa chi, ghi năm, ghi tháng, ghi ngày, ghi giờ cùng các quan hệ tương sinh, tương hình, tương xung, tương hợp… Những nội dung này đã được luận trong tác phẩm “Bí mật lớn dự đoán mệnh lý” của tôi, xin độc giả đọc trước. Trong mục này sẽ nói về “Khóa cơ bản chọn ngày lành tu sửa”.

  1. Hà đồ và Lạc thư

Hà đồ và Lạc thư là một trong những nội dung quan trọng của Dịch học, đồng thời cũng là phần không thể thiếu trong học thuật chọn ngày, nhưng Hà đồ, Lạc thư vô cùng sâu xa, không phải người bình thường có thể thấu hiểu, ở đây chỉ giải thích đơn giản.

“Trên sông Hà xuất hiện đồ, trên sông Lạc xuất hiện thư, thánh nhân noi theo đó.” Hà đồ và Lạc thư đã có lịch sử mấy ngàn năm. Tương truyền vào thời Phục Hy cổ đại, có một con Long Mã thần kỳ xuất hiện trên mặt sông Hoàng Hà, trên lưng mang một đồ hình, người ta gọi là “Hà đồ”, tượng trưng cát tường. Vào thời Đại Vũ trị thủy, lại có con Thần Quy mang một đồ án thần bí khác nổi lên mặt nước, người ta gọi là “Lạc thư”, đại diện hòa thuận, cát lợi.

Hà đồ tượng trưng cho tự nhiên, Lạc thư dựa vào địa phương. Hà đồ là số hậu thiên, Lạc thư là số sinh thành. Hà đồ và Lạc thư tượng trưng cho sản vật của trời đất tự nhiên. Số của Hà đồ là năm mươi lăm, không chỉ là số quẻ tiên thiên mà còn là số đại diễn của trời đất, hơn nữa là số hợp hóa của ngũ hành. Thiên một, Địa hai, Thiên ba, Địa bốn, Thiên năm, Địa sáu, Thiên bảy, Địa tám, Thiên chín, Địa mười; số trời là hai mươi lăm, số đất là ba mươi, tức số trời đất cộng lại là năm mươi lăm. Số trời một, ba, năm, bảy, chín thuộc dương, tượng trưng thiên tượng; số đất hai, bốn, sáu, tám, mười thuộc âm, đại diện địa tượng. Số trời và số đất kết hợp sinh ra ngũ hành: một sáu đồng tông là thủy, hai bảy đồng đạo là hỏa, ba tám là bạn là mộc, bốn chín làm bạn là kim, năm mười đồng đường là thổ.

Số của Lạc thư: đội chín đội một, trái ba phải bảy, hai bốn là vai, sáu tám là chân, năm ở trung tâm; hai số đối diện cộng lại thành mười, tức: một chín hợp thập, hai tám hợp thập, ba bảy hợp thập, bốn sáu hợp thập; các số ở đường chéo cộng lại thì thành mười lăm. Lạc thư đại diện phương vị: một ở phương bắc, chín ở phương nam, hai ở tây nam, tám ở đông bắc, ba ở chính đông, bảy ở chính tây, bốn ở đông nam, sáu ở tây bắc, năm ở trung tâm. Hà đồ, Lạc thư – một sinh một thành, số sinh ở trong, số thành ở ngoài, âm dương mỗi bên chiếm năm vị, thể hiện ra đại pháp tắc của vạn vật trời đất.

Một sáu là thủy, hai bảy là hỏa, ba tám là mộc, bốn chín là kim, năm mười là thổ.

Đội chín đội một, trái ba phải bảy, hai bốn là vai, sáu tám là chân.

  1. Tiên thiên Bát quái

Càn là trời, là dương, ở chính nam; Khôn là đất, là âm, ở chính bắc. Càn ở trên, Khôn ở dưới, tức thành thế “trời đất định vị”. Cấn ở tây bắc, tượng trưng nước; Đoài ở đông nam, tượng trưng đầm. Nước trên núi chảy xuống thấp trở thành đầm, nước trong đầm bốc hơi bốc lên thành mây, hai thứ thông khí với nhau, tức là “núi đầm thông khí”.

Chấn ở đông bắc, Tốn ở tây nam; Chấn là sấm, Tốn là gió, hai bên tác động qua lại, tức là “sấm gió giao động”.

Ly ở đông, Khảm ở tây; Khảm là nước, Ly là lửa, bản chất hai bên đối lập, tức là “nước lửa bất tương dung”.

Thứ tự quẻ là: Càn một, Đoài hai, Ly ba, Chấn bốn, Tốn năm, Khảm sáu, Cấn bảy, Khôn tám (xem hình).

Tiên thiên Bát quái âm dương đối nhau, tổng số của hai quẻ đều là chín, tức “cửu cửu trường viễn”, là chân nghĩa “cửu cửu quy chân”.

Càn là cha già, Khôn là mẹ già, Chấn là con trai trưởng, Tốn là con gái trưởng, Khảm là con trai giữa, Ly là con gái giữa, Cấn là con trai út, Đoài là con gái út. Hai bên đối ứng phối hợp, tức là âm dương giao nhau, có thể sinh ra vạn vật, phát triển lâu dài.

  1. Hậu thiên Bát quái

Lạc thư biến từ thể tiên thiên Hà đồ mà thành dụng. Càn ở tây bắc, Khôn ở tây nam, Ly ở nam, Khảm ở bắc, Chấn ở đông, Đoài ở tây, Tốn ở đông bắc. Hậu thiên Bát quái được hình thành từ các con số của Lạc thư, phân bố trong Cửu cung, tức: phương nam thuộc hỏa số chín, phương bắc thuộc thủy số một, phương đông thuộc mộc số ba, phương tây thuộc kim số bảy, đông nam thuộc mộc số bốn, đông bắc thuộc thổ số tám, tây nam thuộc thổ số hai, tây bắc thuộc kim số sáu, năm ở trung tâm. Khi chọn ngày lành để làm việc thì dựa vào đó để xác định phương vị thời không (xem hình).

  1. Số Lạc thư phối phương vị Hậu thiên Bát quái

Một Khảm, hai Khôn, ba Chấn, bốn Tốn, năm ở trung tâm, sáu Càn, bảy Đoài, tám Cấn, chín Ly.

  1. Tiên thiên Bát quái phối Hậu thiên Bát quái

Sáu Càn, chín Ly là triều tông, cung Khôn mạch Khảm một đường thông.

Ly chín đến thì định ở vị Chấn, vốn từ đất tám là cung Càn.

Nước Khảm đến thì hướng Đoài, vị Tốn phối ứng là cung Khôn.

Hậu thiên đến thì Tiên thiên đối, sinh thành soi chiếu, hòa hợp cùng nhau.

Ai mà hiểu được bí quyết chân thật này, há lo giàu sang chẳng gặp mình.

  1. Hậu thiên Bát quái phối hai mươi bốn sơn phương vị và ngũ hành của quẻ

Quẻ Khảm quản ba sơn Nhâm, Tý, Quý, ở phương bắc, ngũ hành thuộc thủy.

Quẻ Khôn quản ba sơn Mùi, Khôn, Thân, ở phương tây nam, ngũ hành thuộc thổ.

Quẻ Chấn quản ba sơn Giáp, Mão, Ất, ở chính đông, ngũ hành thuộc mộc.

Quẻ Tốn quản ba sơn Thìn, Tốn, Tỵ, ở đông nam, ngũ hành thuộc mộc.

Quẻ Càn quản ba sơn Tuất, Càn, Hợi, ở tây bắc, ngũ hành thuộc kim.

Quẻ Đoài quản ba sơn Canh, Tây, Tân, ở chính tây, ngũ hành thuộc kim.

Quẻ Cấn quản ba sơn Sửu, Cấn, Dần, ở đông bắc, ngũ hành thuộc thổ.

Quẻ Ly quản ba sơn Bính, Ngọ, Đinh, ở chính nam, ngũ hành thuộc hỏa.

Hậu thiên Bát quái hợp thành hai mươi bốn sơn, việc chọn ngày, táng mộ, xây nhà, tu sửa phương vị đều dựa vào đây mà định.

  1. Phương vị Bát môn

Phương đông bắc là Thương môn, phương đông nam là Dương môn, phương tây nam là Bạch môn, phương tây bắc là U Đô môn, phương đông là Khai Minh môn, phương nam là Thự môn, phương tây là Sướng Hạp môn, phương bắc là Hàn môn.

8. Phương vị Tứ môn

Phương Càn là Thiên môn, phương Khôn là Nhân môn, phương Cấn là Quỷ môn, phương Tốn là Phong môn.

  1. Tam nguyên cửu vận

 Về học thuyết Tam nguyên cửu vận, trong các sách vở và trước tác của nhiều danh nhân các đời, đều lấy năm hạn do 1–9 vận trong “Thiên tâm chính vận” của Thẩm thị Huyền không học làm chuẩn. Tuy nhiên, cách này không đầy đủ, khi dùng để đoán việc thì không chính xác, cũng không phù hợp thực tế. Nay xin đem phương pháp sử dụng đúng đắn – vốn là bí truyền của môn này, đã được tôi nghiệm chứng trong thực hành và hoàn toàn phù hợp thực tế – để nói cho đông đảo người yêu thích phong thủy.

Nhất vận Khảm thuộc thủy, sao Nhất bạch Tham Lang quản vận.

Nhị vận Khôn thuộc thổ, sao Nhị hắc Cự Môn quản vận.

Tam vận Chấn thuộc lôi, sao Tam bích Lộc Tồn quản vận.

Tứ vận Tốn thuộc phong, sao Tứ lục Văn Khúc quản vận.

Lục vận Càn thuộc thiên, sao Lục bạch Vũ Khúc quản vận.

Thất vận Đoài thuộc trạch, sao Thất xích Phá Quân quản vận.

Bát vận Cấn thuộc sơn, sao Bát bạch Tả Phù quản vận.

Cửu vận Ly thuộc hỏa, sao Cửu tử Hữu Phù quản vận.

Liêm Trinh quy về vị trí trung tâm, vận không có Ngũ vận, tổng cộng 180 năm.

Nhất vận và Lục vận cùng luận, hành Địa Sơn Khiêm chi, cùng quản 39 năm.

Nhị vận và Thất vận cùng luận, hành Phong Thủy Hoán vận, cùng quản 45 năm.

Tam vận và Bát vận cùng luận, hành Hỏa Lôi Phệ vận, cùng quản 45 năm.

Tứ vận và Cửu vận cùng luận, hành Trạch Thiên vận, cùng quản 51 năm.

Thực chất là Nhị nguyên bát vận, Ngũ hoàng quy về trung ương, thống quản tám cung. Nhất vận bắt đầu từ năm 1864, đến năm 2043 kết thúc Cửu vận, tổng cộng 180 năm. Phương pháp đoán cụ thể không công bố, để dành cho người hữu duyên.

  1. Sự lựa chọn giờ đúng đắn

Khi chúng ta chọn ngày, chọn giờ, lập quẻ hay đoán mệnh đều phải lấy giờ mặt trời địa phương làm chuẩn, không thể lấy giờ Bắc Kinh làm chuẩn. Giờ Bắc Kinh được xác định theo kinh độ 120 độ Đông. Do lãnh thổ nước ta rộng lớn, kinh độ các địa phương khác nhau nên sinh ra sai lệch thời gian. Mỗi địa phương có kinh độ lớn hơn 120 độ thì giờ đều sớm hơn 4 phút cho mỗi 1 độ; mỗi địa phương có kinh độ nhỏ hơn 120 độ thì giờ đều muộn hơn 4 phút cho mỗi 1 độ (1 độ = 4 phút).

Ví dụ: khu vực Từ Lợi có kinh độ 111 độ, chênh lệch với Bắc Kinh 9 độ, tức chênh lệch với giờ chuẩn 36 phút. Nghĩa là giờ địa phương so với giờ Bắc Kinh chênh 36 phút. Giờ chuẩn địa phương (lấy giờ Ngọ làm ví dụ) thì chính Ngọ là 12 giờ 36 phút, giờ Ngọ bắt đầu từ 11 giờ 36 phút và kết thúc lúc 13 giờ 36 phút. Do đó, khi chọn ngày, đoán mệnh hay lập quẻ đều phải lấy giờ mặt trời địa phương làm chuẩn, nếu không dễ mắc sai lầm.

  1. Ngũ hành thuộc tính

(1) Chính thể ngũ hành

Hợi, Nhâm, Tý, Quý là Đại giang thủy.

Dần, Giáp, Ất, Mão, Tốn thuộc cung mộc.

Tỵ, Bính, Ngọ, Đinh đều thuộc hỏa.

Canh, Thân, Tân, Dậu, Càn liền nhau thuộc kim.

Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, Khôn, Cấn thuộc thổ. Đây là gốc tổ của ngũ hành.

(2) Ngũ hành Hồng Phạm

Giáp, Dần, Thìn, Tốn là thủy trong sông; Mậu, Khảm, Tân, Thân cùng thuộc thủy.

Ngọ, Chấn, Tỵ vốn thuộc mộc; Ly, Nhâm, Bính, Ất cùng tông hỏa.

Đoài, Đinh, Càn, Hợi ở chỗ sao kim; Sửu, Quý, Khôn, Canh, Mùi cùng thuộc thổ.

(3) Ngũ hành Bát quái

Càn, Giáp, Đinh, Đoài, Tỵ, Sửu thuộc kim.

Ly, Nhâm, Dần, Tuất thuộc hỏa thiêu rừng.

Tốn, Tân, Chấn, Canh, Hợi, Mùi thuộc thổ.

Khảm, Quý, Thân, Thìn là nước sống sâu.

Cấn, Bính, Khôn, Ất, Dậu, Canh, Ngọ – gốc rễ vốn thuộc thổ âm.

(4) Ngũ hành Nạp âm

Tý, Ngọ là đèn bạc, giá tường vững chắc.

Thìn, Tuất khói đầy lầu chuông thừa.

Dần, Thân là đất cát, đốt củi ẩm – đó chính là bài ca nạp âm Giáp Tý.

(Có khẩu quyết nạp âm sáu mươi Giáp Tý, chỉ cần 2 phút là có thể ghi nhớ toàn bộ và vận dụng linh hoạt).

(5) Ngũ hành Song sơn

Nhâm, Tý, Ất, Thìn, Khôn, Thân thuộc thủy.

Quý, Sửu, Tốn, Tỵ, Canh, Dậu thuộc kim.

Cấn, Dần, Bính, Ngọ, Tân, Tuất thuộc hỏa.

Giáp, Mão, Đinh, Mùi, Càn, Hợi thuộc mộc.

La Công lấy đây để luận Tam hợp, tọa sơn lập hướng ắt phải quyết định chuẩn xác.

(6) Ngũ hành Hà đồ

Càn, Khảm thuộc thủy; Khôn, Đoài thuộc hỏa;
Cấn, Chấn thuộc mộc; Tốn, Ly thuộc kim.

(7) Ngũ hành Lạc thư

Càn, Đoài thuộc kim; Khôn, Cấn thuộc thổ;
Khảm thuộc thủy; Ly thuộc hỏa; Chấn, Tốn thuộc mộc.

(8) Can nạp Bát quái

Càn nạp Giáp, Nhâm; Chấn nạp Canh.

Khảm thủy lưu Tuất; Cấn nạp Bính.

Khôn nạp Ất, Quý; Tốn nạp Tân.

Ly hỏa nạp Kỷ; Đoài nạp Đinh.

(9) Chi nạp Bát quái

Càn nạp Tý, Ngọ; Cấn nạp Thìn, Tuất.

Khảm nạp Dần, Thân; Chấn nạp Tý, Ngọ.

Khôn nạp Mùi, Sửu; Đoài nạp Kỷ, Hợi.

Ly nạp Mão, Dậu; Tốn nạp Sửu, Mùi.

(10) Can chi nạp quẻ

Càn nạp Giáp, Khảm nạp Quý, Thân và Thìn.

Chấn nạp Canh, Hợi, Mùi; Tốn nạp Tân.

Khôn nạp Ất; Ly nạp Nhâm, Dần và Tuất.

Cấn nạp Bính; Đoài nạp Đinh, Tỵ, Sửu, kim.

(11) Âm dương giao thông (Thiên can phối ngũ vận)

Giáp, Kỷ hóa hợp thành thổ.

Ất, Canh hóa hợp thành kim.

Bính, Tân hóa hợp thành thủy.

Mậu, Quý hóa hợp thành hỏa.

Đinh, Nhâm hóa hợp thành mộc. Đây là ngũ vận giao thông.

(12) Địa chi tương hợp lục khí

Tý hợp Sửu thành thổ.

Dần hợp Hợi thành mộc.

Mão hợp Tuất thành hỏa.

Thìn hợp Dậu thành kim.

Tỵ hợp Thân thành thủy.

Ngọ hợp Mùi thành nhật nguyệt.

(13) Phu thê phối hợp

Nhâm hợp Quý, Giáp hợp Ất, Bính hợp Đinh, Mậu hợp Kỷ, Canh hợp Tân.

Mục lục sách

Mục lục chương

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *