Chương 5: Chọn ngày cưới hỏi

  1. Chu Tước

Chu Tước chủ yếu bao gồm ba loại hung sát: Hoành Thiên Chu Tước, Chu Tước Khôn và Chu Tước Nhật.

Hoành Thiên Chu Tước

Hoành Thiên Chu Tước là chỉ bốn ngày mùng một, mùng chín, mười bảy và hai mươi lăm hằng tháng.

Mùng một kỵ cưới hỏi, nếu tổ chức cưới thường có hiện tượng tái hôn hoặc hôn nhân không thuận lợi.

Mùng chín kỵ lên xà, nếu lên xà dễ gặp họa hỏa hoạn.

Ngày mười bảy kỵ an táng, nếu an táng dễ chủ bệnh tật.

Ngày hai mươi lăm kỵ dọn đến nhà mới, nếu dọn đến dễ chủ bị thương tật và hao tài (“hai mươi lăm dọn nhà người bị thương” chính là ý này).

Vì vậy, nếu mùng một hằng tháng là ngày Hoành Thiên Chu Tước thì đại hung, không nên dùng (ba ngày còn lại thuộc loại chọn ngày xây mồ mả, không liên quan đến cưới hỏi).

Chu Tước Khôn

Chu Tước Khôn là chỉ ngày can chi thuộc Chu Tước cố hữu trong Bát quái Cửu cung. Cách tính là: từ bài Sơn Chưởng; nhất Khảm, nhị Khôn, tam Chấn, tứ Tốn, trung cung, lục Càn, thất Đoài, bát Cấn, cửu Ly; từ cung Chấn khởi Giáp Tý, thuận hành Cửu cung, mỗi ngày tiến một vị, đến can chi tại cung Khôn chính là ngày đó.

Trong sáu mươi Giáp Tý, các ngày Nhâm Thân, Tân Tị, Canh Dần, Kỷ Hợi, Mậu Thân, Đinh Tị, Bính Tý tổng cộng bảy ngày “ẩn” tại cung Khôn, nên gọi là “Chu Tước Khôn”. Chọn ngày cưới hỏi kỵ phạm Chu Tước Khôn sát, phạm phải thường chủ tổn thương ông (cha của chú rể). Nếu không có ông thì không kỵ, nếu có ông mà gấp cưới thì có thể dùng hai cách hóa giải:

Một là chọn Thiên Đức cát thần để hóa giải.

Hai là dùng “Phượng Hoàng phù” (dùng giấy vàng, bút mực đen viết theo định thức chú phù: “Phượng hoàng đến đây”) để hóa giải đều được.

Chu Tước Nhật

Chu Tước Nhật là ngày Hắc đạo Chu Tước trong tháng. Cách tính: lấy sáu chi âm trong mười hai địa chi, từ tháng Giêng khởi Mão, mỗi tháng tiến một chi, tức:

Tháng Giêng, tháng Bảy: ngày Mão.

Tháng Hai, tháng Tám: ngày Tị.

Tháng Ba, tháng Chín: ngày Mùi.

Tháng Tư, tháng Mười: ngày Dậu.

Tháng Năm, tháng Mười Một: ngày Hợi.

Tháng Sáu, tháng Mười Hai: ngày Sửu.

Những ngày này kỵ cưới hỏi, nếu phạm có thể dùng phương pháp hóa giải như Chu Tước Khôn.

  1. Bạch Hổ

Bạch Hổ có nhiều tên gọi, chủ yếu gồm: Hắc đạo Bạch Hổ, Kiến tinh Bạch Hổ, Chu Đường Bạch Hổ, Lan Lộ Bạch Hổ, Cửu Vị Bạch Hổ… Cụ thể:

Hắc đạo Bạch Hổ

Hắc đạo Bạch Hổ là ngày Bạch Hổ Hắc đạo thuộc sáu chi dương. Cách tính: lấy sáu chi dương trong mười hai địa chi, từ tháng Giêng khởi Ngọ, mỗi tháng tiến một chi, tức:

Tháng Giêng, tháng Bảy: ngày Ngọ.

Tháng Hai, tháng Tám: ngày Thân.

Tháng Ba, tháng Chín: ngày Tuất.

Tháng Tư, tháng Mười: ngày Tý.

Tháng Năm, tháng Mười Một: ngày Dần.

Tháng Sáu, tháng Mười Hai: ngày Thìn.

Những ngày này là Hắc đạo Bạch Hổ Nhật, kỵ cưới hỏi. Nếu phạm nên dùng “Kỳ Lân phù” (dùng giấy đỏ, bút chu sa viết theo định thức chú phù: “Kỳ lân đến đây hóa giải, bảo bình an”) để hóa giải.

Kiến Tinh Bạch Hổ

Kiến Tinh Bạch Hổ là chỉ ngày “Thành nhật” trong mười hai Kiến tinh (Kiến, Trừ, Mãn, Bình, Định, Chấp, Phá, Nguy, Thành, Thu, Khai, Bế).

Cách tính: tháng Giêng khởi Kiến Dần, thì Dần là ngày Kiến, Mão là ngày Trừ, Thìn là ngày Mãn, Tị là ngày Bình, Ngọ là ngày Định, Mùi là ngày Chấp, Thân là ngày Phá, Dậu là ngày Nguy, Tuất là ngày Thành. Như vậy, Tuất chính là ngày Kiến Tinh Bạch Hổ của tháng Giêng. Các tháng khác tính theo nguyên tắc này (lấy tháng khởi Kiến rồi suy theo thứ tự 12 địa chi).

Do đó, Kiến Tinh Bạch Hổ được xác định từ tháng Giêng khởi Tuất, mỗi tháng tiến một chi, tức:

Tháng Giêng: ngày Tuất

Tháng Hai: ngày Hợi

Tháng Ba: ngày Tý

Tháng Tư: ngày Sửu

Tháng Năm: ngày Dần

Tháng Sáu: ngày Mão

Tháng Bảy: ngày Thìn

Tháng Tám: ngày Tị

Tháng Chín: ngày Ngọ

Tháng Mười: ngày Mùi

Tháng Mười Một: ngày Thân

Tháng Mười Hai: ngày Dậu

Những ngày này đều là Kiến Tinh Bạch Hổ, kỵ dùng cho cưới hỏi. Nếu phạm, có thể dùng “Kỳ Lân phù” để hóa giải.

Chu Đường Bạch Hổ

Chu Đường Bạch Hổ được cấu thành từ Bát quái Cửu cung. Trung cung và tám phương xung quanh được thay thế bằng tám chữ: Táo, Đường, Sàng, Tử, Thụy, Môn, Lộ, Trù, tương ứng với tám phương vị của Hậu thiên Bát quái: Ly, Khôn, Đoài, Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn.

Bạch Hổ Chu Đường được bố trí như hình sau:

Bạch Hổ Chu Đường khi áp dụng thì tính theo tháng âm lịch, không xét tiết khí.

Nếu là tháng đủ (đại nguyệt), từ chữ Táo khởi mùng một, sang chữ Đường là mùng hai, rồi lần lượt theo chiều kim đồng hồ mà tính.

Nếu là tháng thiếu (tiểu nguyệt), từ chữ Trù khởi mùng một, sang chữ Lộ là mùng hai, rồi tính lần lượt theo chiều ngược kim đồng hồ.

Dù là cưới hỏi hay nạp tế, nên chọn ngày Bạch Hổ rơi vào các chữ Tử, Thụy, Trù, Táo thì cát lợi; nếu rơi vào Đường, Sàng, Môn, Lộ thì bất lợi. Nếu phạm, có thể dùng “Kỳ Lân phù” để hóa giải.

  1. Chặn Đường Bạch Hổ

Chặn Đường Bạch Hổ là chỉ các ngày:

Tháng Giêng: mùng 4, 16, 28

Tháng Hai: mùng 5, 17, 29

Tháng Ba: mùng 6, 18

Tháng Tư: mùng 7, 19

Tháng Năm: mùng 8, 20

Tháng Sáu: mùng 9, 21

Tháng Bảy: mùng 10, 22

Tháng Tám: 11, 23

Tháng Chín: 12, 24

Tháng Mười: mùng 1, 13, 25

Tháng Mười Một: mùng 2, 14, 26

Tháng Mười Hai: mùng 3, 15, 27

Gặp ngày Chặn Đường Bạch Hổ, nên dán “Kỳ Lân phù” tại cầu đón dâu hoặc trên xe rước dâu. Nhưng nếu ở thành phố dùng xe nhỏ kín để rước họ hàng thì không kỵ Chặn Đường Bạch Hổ, vì Bạch Hổ không biết trong xe có “người mới”, dù biết cũng không kịp chặn.

  1. Cửu Vị Bạch Hổ

Cửu Vị Bạch Hổ được tính từ năm hành giá của nữ mệnh, an mười hai sao: Thái Tuế, Tam Thái Dương, Tam Tang Môn, Tứ Thái Âm, Ngũ Quan Phù (Ngũ Quỷ), Lục Tử Phù, Thất Tuế Phá, Bát Kinh Đức, Cửu Bạch Hổ, Thập Phúc Đức, Thập Nhất Thiên Cẩu, Thập Nhị Bệnh Phù

Vì Bạch Hổ ở vị trí thứ chín trong mười hai sao tính từ năm nữ mệnh hành giá, nên gọi là Cửu Vị Bạch Hổ.

Ví dụ:

Năm Tý hành giá → Bạch Hổ ở cung Thân (vị trí thứ chín)

Năm Sửu → cung Dậu

Năm Dần → cung Hợi

… các năm khác suy theo đó.

Phàm cung Bạch Hổ chiếm đóng không nên đặt tân phòng và giường tân hôn. Nếu phạm, có thể dùng “Kỳ Lân phù” hóa giải, hoặc chọn thời điểm Quý đăng thiên môn để hóa giải.

Nếu Cửu Vị Bạch Hổ trùng với vị trí thai của tam hợp trường sinh của nữ mệnh (trong chọn ngày gọi là Thai nguyên) thì gọi là Bạch Hổ nuốt thai.

Ví dụ: Nữ mệnh Giáp Dần, kết hôn năm Canh Thìn. Nữ này thuộc mệnh tam hợp Hỏa cục (Dần – Ngọ – Tuất), trường sinh tại Dần, Mão là Mộc dục, Thìn là Quan đới, Tị là Lâm quan, Ngọ là Đế vượng, Mùi là Suy, Thân là Bệnh, Dậu là Tử, Tuất là Mộ, Hợi là Tuyệt, Tý là Thai (Thai nguyên), Sửu là Dưỡng. Năm Thìn hành giá: từ Thìn khởi Thái Tuế, Tị Thái Dương, Ngọ Tang Môn, Mùi Thái Âm, Thân Quan Phù (Ngũ Quỷ), Dậu Tử Phù, Tuất Tuế Phá, Hợi Long Đức, Tý Bạch Hổ (Cửu Vị Bạch Hổ), Sửu Phúc Đức, Dần Thiên Cẩu, Mão Bệnh Phù.

Từ đó thấy, Cửu Vị Bạch Hổ trùng với vị trí Thai nguyên → là Bạch Hổ nuốt thai, rất xấu. Có thể dùng “Kỳ Lân phù” hóa giải, hoặc chọn lúc Thái Dương đáo cung, hợp chiếu, lục hợp, củng chiếu, hoặc Quý nhân đăng thiên môn để hóa giải.

III. Thiên Cẩu

Thiên Cẩu là vị trí tính từ năm hành giá (năm cưới) của nữ mệnh, thuận đếm mười một vị trí. Nó nằm ở cung trước hai cung so với Cửu Vị Bạch Hổ.

Ví dụ: một nữ mệnh kết hôn vào năm Thìn, Bạch Hổ ở cung Tý thì Thiên Cẩu ở cung Dần. Nếu Thiên Cẩu trùng với vị trí thai của tam hợp trường sinh của nữ mệnh (trong chọn ngày gọi là Thai nguyên), thì gọi là Thiên Cẩu nuốt thai. Trong chọn ngày cưới, Thiên Cẩu nuốt thai được coi là hung sát ngang với Bạch Hổ nuốt thai, và cách hóa giải giống như Bạch Hổ nuốt thai.

  1. Tứ Ly

Tứ Ly là chỉ ngày liền trước bốn tiết âm dương, tức là:

Đông chí trước một ngày là Thủy Ly

Hạ chí trước một ngày là Hỏa Ly

Thu phân trước một ngày là Âm thể phân mà Kim Ly

Xuân phân trước một ngày là Mộc Ly

Nói đơn giản, tức là ngày liền trước Xuân phân, Thu phân, Hạ chí, Đông chí. Do ngày Tứ Ly mang ý nghĩa “phân tách”, nên kỵ dùng cho cưới hỏi.

  1. Tứ Tuyệt

Tứ Tuyệt là chỉ ngày liền trước bốn tiết Lập.

Trước Lập Xuân: Mộc vượng mà Thủy tuyệt

Trước Lập Hạ: Hỏa vượng mà Mộc tuyệt

Trước Lập Thu: Kim vượng mà Thổ tuyệt

Trước Lập Đông: Thủy vượng mà Kim tuyệt

Nói đơn giản, tức là ngày liền trước Lập Xuân, Lập Hạ, Lập Thu, Lập Đông. Do ngày Tứ Tuyệt mang ý nghĩa “mất”, nên kỵ dùng cho cưới hỏi.

  1. Chính Tứ Phế

Chính Tứ Phế là chỉ ngày có can chi đều thuộc tuyệt thể, cụ thể:

Mùa xuân (tháng Giêng, Hai, Ba): ngày Canh Thân, Tân Dậu.

Mùa hạ (tháng Tư, Năm, Sáu): ngày Nhâm Tý, Quý Hợi.

Mùa thu (tháng Bảy, Tám, Chín): ngày Giáp Dần, Ất Mão.

Mùa đông (tháng Mười, Mười Một, Mười Hai): ngày Bính Ngọ, Đinh Tị.

Những ngày Chính Tứ Phế kỵ dùng cho cưới hỏi. Dù gặp Thiên Đức hay Nguyệt Đức hợp, thì đức hợp cũng không còn khí, vẫn không nên chọn. Nếu lại trùng với Nguyệt phá thì vừa phế vừa xung, càng hung, mọi việc đều bất lợi.

VII. Hồi Đầu Cống Sát

Hồi Đầu Cống Sát là chỉ trong ngày giờ chọn được, khi tam hợp địa chi đủ bộ mà quay lại gây tổn hại cho vị trí Dưỡng của mệnh.

Tam hợp Thân – Tý – Thìn, toàn bộ sát ở mệnh vị Mùi (Dưỡng vị).

Tam hợp Dần – Ngọ – Tuất, toàn bộ sát ở mệnh vị Sửu.

Tam hợp Tị – Dậu – Sửu, toàn bộ sát ở mệnh vị Thìn.

Tam hợp Hợi – Mão – Mùi, toàn bộ sát ở mệnh vị Tuất.

Ba điểm cần chú ý về Hồi Đầu Cống Sát:

Chỉ khi trong tứ trụ ngày giờ có đủ cả ba địa chi của một tam hợp thì mới cấu thành “Hồi Đầu Cống” và mới có sát. Nếu chỉ có một hoặc hai chi, không đủ ba, thì không coi là phạm. Các trường hợp khác đều suy ra tương tự.

Chỉ những người sinh năm có chi là Thìn, Tuất, Sửu, Mùi mới có khả năng phạm; các chi năm khác thì không phạm.

Khi phạm Hồi Đầu Cống Sát, nếu là nữ mệnh cưới hỏi thì phạm nữ, nếu là nam mệnh nạp tế thì phạm nam.

VIII. Tuyệt Phòng Sát và Mai Nhi (Sát) Thời

Trong mười hai địa chi:

Tý – Ngọ – Mão – Dậu (tứ Đế vượng) sát tại Sửu.

Thìn – Tuất – Sửu – Mùi (tứ Mộ khố) sát tại Mão.

Dần – Thân – Tị – Hợi (tứ Trường sinh) sát tại Thân.

Nếu sát nằm ở Nguyệt lệnh đề cương thì gọi là Tuyệt Phòng Sát (tháng); nếu sát nằm ở giờ thì gọi là Mai Nhi (Sát) thời.

Thông thường, dù là Tuyệt Phòng Sát (tháng) hay Mai Nhi (Sát) thời, thì cưới hỏi và an giường đều kỵ, phạm thì thường chủ không có con trai, hoặc ít con, hoặc sinh khó nuôi. Tuy nhiên, qua thực tế kiểm nghiệm, nếu gặp các trường hợp đặc biệt sau đây thì vẫn có thể dùng, để người đọc tham khảo:

Nếu phạm Tuyệt Phòng Sát (tháng) – sát ở “tháng” – thì có thể chọn tháng lợi cho cưới hỏi (lợi tháng lớn, nhỏ; nếu không có cha mẹ chồng, cha mẹ ruột thì tháng kỵ cha mẹ cũng thành tháng lợi), hoặc chọn ngày có Thiên Đức – Nguyệt Đức (hợp) thì vẫn có thể hóa giải, và vẫn dùng được.

Nếu phạm Mai Nhi (Sát) thời – sát ở “giờ” – thì có thể chọn ngày giờ cưới (hoặc an giường) có sinh, vượng, Lộc, Mã, Quý hội tụ, gọi là “hữu khí”, thì không kỵ. Nếu giờ đó lại có Thực thần (trong chọn ngày gọi là Thiên Tự) hữu khí thì càng tốt, không những không kỵ, mà còn chủ nhiều con trai, đúng với câu “Thực thần hữu khí phản đa nhi”.

  1. Nguyệt Yếm và Yếm Đối

Nguyệt Yếm

Nguyệt Yếm là chỉ vị trí yếm nằm ở một chi trước Thái Dương. Do Nguyệt kiến đi sang trái theo thuận chiều, còn Nguyệt Yếm đi sang phải là “phản điều” mà sinh sự chán chường. Trong chu kỳ lục thập Giáp Tý, hai yếu tố này giao nhau, đan xen mà sinh ra cát hung.

Vì tháng Giêng, Nguyệt kiến ở Dần, Thái Dương ở Hợi, nên Nguyệt Yếm ở Tuất. Tháng Hai, Thái Dương ở Tuất, Nguyệt Yếm ở Dậu, rồi tiếp tục suy ngược theo 12 chi mà tính.

Kết hôn, xuất giá vốn là chuyện vui, nếu Nguyệt Yếm mang ý nghĩa “chán chường” thì hà tất phải thành hôn? Bởi vậy, Nguyệt Yếm không chỉ kỵ cưới hỏi, an giường, mà còn kỵ dùng cho sinh nhật, tiệc mừng thọ và các sự kiện chúc mừng khác.

Nguyệt Yếm tuy không đến mức gây thương vong, nhưng đã là hôn nhân “chán chường” thì vì sao phải gắn kết? Đây là lý do kiêng kỵ.

Yếm Đối

Yếm Đối là cung đối xung với cung Nguyệt Yếm.

Ví dụ: Nguyệt Yếm ở Tuất thì Yếm Đối ở Thìn; Nguyệt Yếm ở Dậu thì Yếm Đối ở Mão; các trường hợp khác cũng tính theo nguyên tắc này.

Nguyệt Yếm chủ yếu ứng vào chính đương sự, còn cung đối xung (Yếm Đối) ứng vào cha mẹ chồng, cha mẹ vợ hoặc người chủ hôn đứng ra lo liệu hôn lễ. Vì vậy, nếu phạm Yếm Đối mà không có cha mẹ chồng hoặc cha mẹ ruột thì không kỵ.

Mục lục sách

Mục lục chương

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *