Pháp chọn ngày Tứ Hòa là một phương pháp chọn ngày chỉ dựa vào “địa chi” trong hệ lục thập giáp tử, không cần xét đến sự phối hợp của “thiên can”. Cách khởi pháp như sau:
Bước một: Trước tiên, chia mười hai địa chi thành bốn nhóm theo hình thức tam hợp cục, cụ thể:
Thân – Tý – Thìn (tam hợp thủy cục)
Tị – Dậu – Sửu (tam hợp kim cục)
Dần – Ngọ – Tuất (tam hợp hỏa cục)
Hợi – Mão – Mùi (tam hợp mộc cục)
Bước hai: Từ mỗi nhóm tam hợp ở trên chọn ra một địa chi đại diện, tức “mỗi nhóm cử ra một đại biểu” để hợp thành một tổ hợp bốn địa chi của ngày dùng việc (không cần xét thiên can đi kèm địa chi là can gì). Cách từ mỗi nhóm tam hợp chọn ra một chi đại diện để hợp thành dạng “nghị hòa” như vậy chính là phương pháp chọn ngày Tứ Hòa mà dân gian truyền tụng là thần diệu.
Ví dụ: Năm Tân Tị (2001) chọn ngày, do đã cố định có địa chi “Tị”, nên các tháng Tị – Dậu – Sửu (tháng 4, tháng 8, tháng 12 âm lịch) sẽ không có ngày để chọn, còn lại các tháng khác thì có thể tùy ý lựa chọn. Chẳng hạn, ở các tháng Dần – Ngọ – Tuất (tháng 1, tháng 5, tháng 9) thì sẽ có các tổ hợp tháng – năm như: Tị Dần, Tị Ngọ, Tị Tuất. Nếu cần chọn ngày trong tháng Giêng và dự định dùng việc vào ngày thuộc Thân – Tý – Thìn, thì có thể phối giờ bằng Hợi – Mão – Mùi. Nếu dự định dùng việc vào ngày thuộc Hợi – Mão – Mùi, thì có thể phối giờ bằng Thân – Tý – Thìn. Khi đó sẽ tạo ra các tổ hợp:
Tị Dần Thân Hợi, Tị Dần Thân Mão, Tị Dần Thân Mùi
Tị Dần Tý Hợi, Tị Dần Tý Mão, Tị Dần Tý Mùi
Tị Dần Thìn Hợi, Tị Dần Thìn Mão, Tị Dần Thìn Mùi
Tổng cộng được chín ngày Tứ Hòa có thể dùng, các trường hợp khác đều có thể suy luận tương tự.
Có người có thể đặt câu hỏi: “Phương pháp chọn ngày Tứ Hòa đơn giản như vậy, thì hiệu lực (hiệu quả) của nó ra sao?” Đây là vấn đề mọi người quan tâm. Dựa vào kinh nghiệm ứng dụng thực tế của bản thân, tôi tổng kết như sau:
Ngày Tứ Hòa là một loại ngày lấy “hòa” làm quý, tức là một phương pháp chọn ngày trung lập, tương tự như “Lôi đình bát giá” và “Luật lữ chọn ngày”. Tác dụng chính là để “cách sát”, vì vậy nếu là việc tháo dỡ, cải tạo nhà cũ, hoặc các việc tu sửa (sửa phương, sửa sơn, sửa hướng, sửa trung cung) thì không chỉ cần xét lợi cho bản thân (người dùng việc) mà còn phải cân nhắc đến hàng xóm xung quanh. Do đó, việc dùng ngày Tứ Hòa là một phương pháp chọn ngày rất đáng tham khảo.
- Thông thường, ngày Tứ Hòa có thể chọn và sử dụng, nhưng vì đặc điểm truy cầu “hòa” thuận nên rất ít khi có hiệu quả thăng trầm lớn. Vì vậy, trong giới chọn ngày, nó không được quá đề cao; nhiều khi ngày Tứ Hòa chỉ thể hiện sự “bình an” mà thôi, tức là cái mà người ta thường gọi là “ngày có cũng được, không có cũng chẳng sao”. Nếu lấy việc xây dựng làm ví dụ, nó giống như một “điểm cơ sở” bằng 0, không âm cũng không dương. Tuy nhiên, nếu đứng ở góc độ “bình an là phúc” mà xét, thì nó vẫn có thị trường của riêng mình.
- Trong một số cách cục đặc biệt, ngày Tứ Hòa đôi khi lại thúc đẩy sự tốt lành. Ví dụ: cách Dần – Thân – Tị – Hợi tứ trường sinh, không chỉ là ngày Tứ Hòa, mà còn là Lôi đình bát giá, khi dùng ở sơn gia phạm Lan sát thì hiệu quả khá lý tưởng.
Dưới đây nêu một ví dụ cổ về ngày Tứ Hòa để bạn đọc tham khảo:
Năm Hàm Phong thứ 2 triều Thanh (tức năm 1852), tại thôn Sơn Thụy, trấn Lê thôn, huyện Dung, tỉnh Quảng Tây, gia tộc họ Hoàng (Hoàng Ngọc Lương) xây dựng dương trạch ở vị trí phía trên bên phải không xa Trường trung học Sơn Thụy của thôn. Long mạch thuộc Càn long nhân thủ, lập hướng Tý sơn Ngọ hướng kiêm Quý Đinh phân kim (tọa Địa Lôi Phục quẻ hào ba), xây dựng bốn tòa nhà tứ hợp viện mái ngói hành lang kép, chiều ngang 66,90 mét, chiều sâu 55,70 mét. Bên ngoài cổng chính còn có một sân phơi và một ao nước, thủy khẩu xuất tại phương Thìn – Tốn.
Ngày dùng việc khi đó là Nhâm Tý niên, Bính Ngọ nguyệt, Quý Hợi nhật, Đinh Tị thời — đây là một ngày Tứ Hòa điển hình thuộc cách Lộc Quý giao trì lưỡng chiến cách (niên mệnh của gia chủ không rõ).
Thông thường, thầy chọn ngày khi thấy cách cục này sẽ cảm thấy bất an, vì trong ngày này, niên – nguyệt (Tý – Ngọ) xung nhau, nhật – thời (Hợi – Tị) cũng xung nhau. Chẳng phải bốn chi xung nhau thành hai cặp sao? Sách có câu: “Có xung có hợp mới là quý, không xung không hợp thì hèn kém hơn bùn”.
Xét kỹ bản chất, tuy có xung mà không hợp, nhưng vẫn là đại cát, vì trong sinh khắc chế hóa ngũ hành có nguyên tắc “Nam xung Bắc bất động, Đông khắc Tây bất di”. Nghĩa là: hỏa phương Nam không thể xung động thủy phương Bắc, mộc phương Đông khắc không đổ kim phương Tây. Thêm nữa, thủy của sơn gia và địa chi năm là tỉ kiên nên vượng, tháng là tài tinh của sơn gia và năm (thủy khắc hỏa nên vượng), giờ lại là tài tinh của nhật và của sơn gia.
Vậy tài tinh có phải là thứ sơn gia có thể dùng không? Vì tứ trụ thiên can địa chi của nhật khắc đều mang lộc và quý, tạo thành cách Lộc Quý giao trì. Nguyệt chi Ngọ tuy bị sơn gia xung, nhưng vẫn là tài tinh, lại có nhật tiến lộc nhập sơn, nên Lộc Quý đều đến sơn. Hơn nữa, “Nhất Quý đương quyền, bách sát giai phục”, cho dù không có quý thì nguyệt chi thuộc hỏa cục Tam sát, sát khí thuộc thủy, thủy trường sinh tại Thân, vượng tại Tý, trong tháng Ngọ thì là vị trí Thai – Tuyệt, tức là đang ở trạng thái “hưu tù”, không phát tác hung họa.
Điều quan trọng hơn, ngày này là Tứ Hòa cách, lại hợp thêm cách Lộc Quý giao trì, hình thành Lộc Quý giao trì lưỡng chiến cách của Tứ Hòa.
Nhờ có ngày cát như vậy, kết hợp với hình thế phong thủy dương trạch như “Phi Phụng triều dương”, lại thêm phần mộ tổ họ Hoàng ở Lê thôn Thạch Ấn Xung, địa danh Tùng Cương Thư Phòng Lĩnh, hình thế “Ngọc Long xuất động”. Mộ tổ này có long mạch và lập hướng giống hệt dương trạch — Tý sơn Ngọ hướng kiêm Quý Đinh (tọa Địa Lôi Phục quẻ sơ hào ba).
Nhờ có “Long – Phụng song hiện” bảo hộ, cộng thêm được ngày lành thúc đẩy, mới tạo nên được gia tộc “Sơn Thụy Hoàng” danh tiếng, không chỉ vượng tài đinh mà còn song toàn phú quý. Hậu duệ cao quý nhất là con trai út của Hoàng Ngọc Lương — Hoàng Thiệu Hoằng, tự Tú Khoan, trước giải phóng từng giữ chức Chủ tịch ba tỉnh Quảng Tây, Chiết Giang, Hồ Bắc; Bộ trưởng Nội vụ, Phó Viện trưởng Viện Giám sát, Bộ trưởng Giao thông, Trưởng bộ Tác chiến Quân ủy, Ủy viên Lập pháp… là nhân vật số hai của Tân Quế hệ Quảng Tây, sáng lập Đại học Quảng Tây, là một trong các đại biểu đàm phán Quốc – Cộng tháng 3/1949.
Sau giải phóng, ông bỏ tối theo sáng, giữ chức Ủy viên Quốc phòng, Ủy viên Thường vụ Quốc hội, Ủy viên Chính hiệp, Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng Cách mạng Dân chủ… Chỉ tiếc rằng, trong “Cách mạng Văn hóa” ông bị bức hại đến chết, hưởng thọ 71 tuổi. Cuộc đời ông nhiều thăng trầm nhưng luôn tận tâm với hòa bình, suốt đời giữ vững nguyên tắc “lấy hòa làm quý”, điều này cũng trùng hợp với tôn chỉ của pháp chọn ngày Tứ Hòa.
Bởi vậy, việc pháp chọn ngày Tứ Hòa có nên được phổ biến hay không vẫn cần giới chọn ngày tiếp tục nghiên cứu.