Học thuyết Âm dương
Trên thế giới có nam liền có nữ, có cát liền có hung, trong vũ trụ tất cả mọi vật đều có chính phản hai mặt. Bản thân Vũ trụ tạo thành từ Chính vũ trụ và Phản vũ trụ, vũ trụ là một tổ hợp âm dương khổng lồ. Cô Dương không dài, cô âm không sinh, âm dương dựa vào nhau mà tồn tại chứ không thể tồn tại độc lập. Chữ “Dịch” từ khởi nguyên ký tự và tổ hợp mà nói chính là hợp thể của hai chữ Nhật Nguyệt. Mặt trời là dương, mặt trăng là âm, “Dịch” chính là biến hóa âm dương. Nói cách khác bản chất “Dịch” là miêu tả quy luật biến hóa và phát triển của vũ trụ. Sự phát triển và biến hóa của vũ trụ chính là do tác dụng của âm Dương. Quy luật này được cổ nhân gọi là “Đạo”. “Đạo” là bản chất của vũ trụ, lợi Dụng âm dương tạo dựng lên dự đoán thuật, cũng là phương pháp nhận biết cùng chứng thực “Đạo”.
Lợi Dụng nguyên lý âm dương tạo dựng lên dự đoán thuật sở dĩ có thể dự đoán chuẩn xác nhiều chuyện bởi vì con người cùng vũ trụ có quan hệ mật thiết. Con người là sản phẩm mà vũ trụ phát triển đến một giai đoạn nhất định mà sinh ra, con người là tinh hoa vũ trụ, là ảnh thu nhỏ của vũ trụ, mỗi cơ thể người chính là một tiểu vũ trụ. Chỉ có thấu hiểu vũ trụ mới có thể chân chính nhận biết về cơ thể, chỉ có thấu hiểu cơ thể mới có thể giải khai vũ trụ chi mê.
Con người là vạn vật chi linh, vũ trụ phát triển cũng chính là con người phát triển. Phương diện Âm dương trong cơ thể con người được thể hiện rất đầy đủ. Như giới tính mà nói, nữ là âm, nam là dương. Trên cơ thể một người mà nói, thượng là dương, hạ là âm, lưng là dương, ngực là âm, trái là dương, phải là âm, bên ngoài là dương, bên trong là âm, phủ (*) là dương, tạng (**) là âm. Con người khi còn sống chính là một quá trình biến hóa Âm Dương. Trước khi thụ thai, gọi là gen cũng tốt, mật mã cũng tốt, thực ra là một thứ gì đó vô hình mang hình thức âm tính tồn tại, một khi âm dương kết hợp, người phụ nữ thụ thai sẽ hiện ra dương tính, hình thành thai nhi, đây chính là chuyển biến từ âm đến dương. Mà so sánh thai nhi trong bụng cùng cơ thể người bên ngoài tương đối mà nói thì thai nhi là âm, sinh ra thành người là dương. Nhân sinh về sau không ngừng trưởng thành, khi còn bé là âm, lớn lên là dương, dương phát triển đến giai đoạn nhất định lại hướng âm phát triển, trẻ là dương, già là âm, người sống là dương, chết là âm. Chỉ có nắm thật chắc nguyên lý âm dương, mới có thể dùng Lục hào nắm chắc xu thế phát triển của con người và sự vật.
(*) Phủ: bộ phận trong vùng bụng. Lục phủ là sáu bộ phận quan trọng trong vùng bụng của cơ thể con người. Lục phủ gồm: Vị, đảm, tam tiêu, bàng quang, tiểu trường, đại trường
(**) Tạng: bộ phận trong vùng ngực và bụng. Ngũ tạng là năm bộ phận quan trọng trong vùng ngực và bụng của con người. Ngũ tạng gồm: tâm, can, tỳ, phế, thận
Học thuyết Ngũ Hành
Từ góc độ Dịch mà nói Ngũ Hành là nguyên tố vật chất cơ bản nhất cấu thành thế giới. Vạn sự vạn vật đều bao hàm Ngũ Hành. Các loại sự vật phát sinh, phát triển đều là kết quả do Ngũ Hành tương tác. Cụ thể mà nói, Ngũ Hành là Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ năm loại nguyên tố được cổ nhân khái quát và tổng kết từ thuộc tính của tất cả sự vật trong vũ trụ.
Trong Ngũ Hành, Thủy đại biểu đặc tính sự vật là rét lạnh, hướng xuống, ẩm ướt, tưới nhuần; Như nước, mưa, tuyết, đêm, màu đen, bắc, băng đều là thuộc tính thủy. Hỏa đặc tính là ấm áp, sáng ngời, hướng lên, bốc lên; Như hỏa diễm, quang mang, mùa hè, màu đỏ, phương nam đều là thuộc tính hỏa. Mộc đặc tính là sinh sôi, nhu hòa, đúng sai, giãn ra; Như thực vật, sáng sớm, mùa xuân, phương đông, hoa cỏ đều là thuộc tính mộc. Kim đặc tính là thanh lương, sạch sẽ, túc hàng, thu liễm; Như kim loại, mùa thu, màu trắng, phương tây đều là thuộc tính kim. Thổ đặc tính là sinh dưỡng, sinh hóa, thu nạp, biến hóa; Như đất, núi, màu vàng, trung ương đều là thuộc tính thổ.
Học thuyết Ngũ Hành không chỉ để phân loại tính chất sự vật mà quan trọng hơn nó nói về quy luật vận động nội bộ nói chung của sự vật. Nói cách khác, quan hệ tương hỗ trong Ngũ Hành có mặt tương sinh lại có mặt tương khắc. Chính vì tương sinh tương khắc nên trong vũ trụ sự vật mới có thể biến hóa và phát triển.
Ngũ Hành tương sinh là: Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy. Quan hệ Ngũ Hành tương sinh là cổ nhân từ trong thực tiễn quan sát các hiện tượng tự nhiên mà tổng kết ra. Tỉ như, hoa cỏ cây cối trong ngũ hành thuộc tính là mộc, mặc dù là sinh trưởng trong đất, nhưng nhất định phải có thủy tưới nhuần mới có thể sinh trưởng, cho nên cho rằng Thủy sinh Mộc. Lại như khoan gỗ có thể lấy lửa, cây cối có thể thiêu đốt, bởi vậy cho rằng Mộc sinh Hỏa. Vật bị hỏa thiêu biến thành tro, tro tức là thổ, cho nên Hỏa sinh Thổ. Kim loại là từ trong đất lấy ra khoáng thạch tinh luyện mà thành, cho nên Thổ có thể sinh Kim. Kim nóng chảy biến thành chất lỏng, thủy khí lại tụ trên bề mặt kim loại ngưng kết thành giọt nước, cho nên cổ nhân cho rằng Thủy là từ Kim sở sinh mà ra.
Ngũ Hành tương khắc là: Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy. Nguyên lý tương khắc cũng quan sát từ thiên nhiên mà quy nạp tổng kết ra. Thiên địa chi tính, nhiều thắng ít, thủy có thể dập lửa, cho nên Thủy khắc Hỏa. Tinh thắng kiên, hỏa năng làm kim loại nóng chảy, cho nên Hỏa khắc Kim. Vừa thắng nhu, đao kim loại có thể đốn củi, cho nên Kim khắc Mộc. Chuyên thắng tán, cây cỏ cắm rễ ở thổ, cho nên Mộc khắc Thổ. Thực thắng hư, thổ có thể ngăn thủy, cho nên Thổ khắc Thủy.