Trong quẻ Lục hào mỗi hào hưu tù, vượng tướng là nơi quyết định xem sự tình cát hung. Sự suy vượng của hào do Nhật, Nguyệt, hào động ảnh hưởng. Trong đó Nhật Nguyệt ảnh hưởng lớn nhất, Nhật Nguyệt như trời, có thể sinh khắc mọi hào và hào biến trong một quẻ, mà hào trong quẻ dù tỷ hòa với Nguyệt, lâm Nguyệt, cũng không thể ảnh hưởng đến Nhật Nguyệt. Nguyệt kiến chấp chưởng quyền lực trong một tháng, có thể tác dụng ở bất cứ ngày nào trong tháng đó, là đề cương của Lục hào dự đoán. Hào suy yếu Nguyệt kiến có thể sinh phù; hào vượng tướng, Nguyệt kiến có thể xung, khắc, hình. Phàm trong quẻ cái gì có lợi cho Dụng thần đều cần Nguyệt kiến giúp đỡ, gây bất lợi cho Dụng thần cần Nguyệt kiến chế phục. Trong quẻ có hào biến khắc chế hào động, Nguyệt kiến có thể chế phục biến hào. Trong quẻ có hào động khắc chế hào tĩnh, Nguyệt kiến có thể chế phục hào động. Dụng thần phục tàng bị phi hào ngăn chặn, Nguyệt kiến có thể xung khắc phi thần, sinh trợ phục thần, hào gặp Nguyệt hợp, gọi là hợp vượng, được xem là vượng, hào gặp Nguyệt xung gọi là Nguyệt phá, xem là hưu tù.
Nguyệt kiến
Lục hào dùng mười hai địa chi biểu thị tháng, gọi là Nguyệt kiến. Tháng trong Lục hào không phải âm lịch cũng không phải là dương lịch, mà là lấy theo Tiết khí, cũng đem một năm chia mười hai tháng. Mỗi tiết chính là thời điểm tháng đó bắt đầu. Bên dưới có so sánh Tiết với dương lịch như sau:
Dương lịch tháng một đối ứng tháng Sửu, tháng hai đối ứng tại tháng Dần, tháng ba đối ứng tháng Mão, tháng tư đối ứng tháng Thìn, tháng năm đối ứng tháng Tị, tháng sáu đối ứng tháng Ngọ, tháng bảy đối ứng tháng Mùi, tháng tám đối ứng tháng Thân, tháng chín đối ứng tháng Dậu, tháng mười đối ứng tháng Tuất, tháng mười một đối ứng tháng Hợi, tháng mười hai đối ứng tháng Tý.
Trong Lục hào một năm bắt đầu tính từ lập xuân tính đi, mỗi Tiết đối ứng một, cụ thể đối ứng quan hệ như sau:
Lập xuân là bắt đầu tháng Dần, Kinh Trập là bắt đầu tháng Mão, Thanh minh là bắt đầu tháng Thìn, Lập hạ là bắt đầu tháng Tị, Mang chủng là bắt đầu tháng Ngọ, Tiểu thử là bắt đầu tháng Mùi, Lập thu là bắt đầu tháng Thân, Bạch lộ là bắt đầu tháng Dậu, Hàn lộ là bắt đầu tháng Tuất, Lập đông là bắt đầu tháng Hợi, Đại tuyết là bắt đầu tháng Tý, Tiểu hàn là bắt đầu tháng Sửu. Thời gian giao Tiết rất trọng yếu, Tiết trước là tháng trước, một phút Tiết sau liền thành tháng sau, một phút cũng không thể mập mờ. Cụ thể thời gian giao Tiết có thể từ lịch vạn niên tra được.
Nguyệt phá
Trong quẻ hào bị Nguyệt kiến xung gọi là Nguyệt phá. Tức tháng Dần phá Thân, tháng Mão phá Dậu, tháng Thìn phá Tuất, tháng Tị phá Hợi, tháng Ngọ phá Tý, tháng Mùi phá Sửu, tháng Thân phá Dần, tháng Dậu phá Mão, tháng Tuất phá Thìn, tháng Hợi phá Tị, tháng Tý phá Ngọ, tháng Sửu phá Mùi.
Hào Nguyệt phá hưu tù bất động, hoặc không mà gặp tuyệt, nhập mộ thì lực lượng thu nhỏ, không có tác dụng, Dụng thần bị phá là xấu, kị thần bị phá là tốt. Nếu hào Nguyệt phá vượng tướng phát động, hoặc gặp sinh phù, thì vẫn có lực, có thể phát sinh tác dụng, Dụng thần gặp là tốt, kị thần gặp là xấu. Nguyệt phá, trước mắt mặc dù phá, hết tháng đó thì không phá, gặp ngày, tháng có cùng địa chi với địa chi bị Nguyệt phá là thực phá. Ngày, tháng có địa chi hợp với địa chi bị Nguyệt phá thì là hợp phá. Thực phá, hợp phá thường dùng để phán đoán ứng kỳ. Gần ứng ngày, xa ứng năm tháng, dự đoán thời vụ cần lưu tâm.
Ví dụ 1: ngày Ất Mão tháng Tị, xem vợ đau bụng không ngừng, được quẻ Trạch Thiên Quái biến Thủy Thiên Nhu.

TUẦN KHÔNG: Tý, Sửu
Lấy Thê tài làm Dụng thần, Hợi Thủy Nguyệt phá, Tý thủy tuần không, kiêm làm Dụng thần. Hợi Thủy phát động hóa hồi đầu sinh, lại được Tử tôn Dậu kim trì Thế ám động sinh trợ, không sao. Dụng thần Nguyệt phá, sang tháng không phá, tháng Ngọ Hợi Thủy đã không phá, Tý thủy gặp xung, xung không thì thực, vợ bệnh sẽ khỏi bệnh. Về sau tháng Ngọ tự khỏi.
Ví dụ 2: ngày Nhâm Dần tháng Bính Tuất năm Ất Hợi, một người đàn ông khoảng năm mươi tuổi đến hỏi hôn nhân, gieo được quẻ Phong Lôi Ích biến Phong Trạch Trung Phu.

TUẦN KHÔNG: Thìn, Tị
Lấy Thê tài làm Dụng thần. Trong quẻ Thê tài lưỡng hiện, lấy hào Thê tài trì Thế làm Dụng thần. Thê tài Thìn thổ trì Thế, là có tin tức của vợ. Nhưng Thê tài Thìn thổ tuần không, Nguyệt phá, Huynh đệ Dần mộc động hóa tiến thần, lại là tượng ly dị.
Dụng thần Thê tài Thìn thổ lâm không lại phá, không phá ứng thực không thực phá, năm 1998 là năm Mậu Thìn, năm này Dụng thần thực phá, đoán sẽ chia tay năm 1998.
Suy đoán quả nhiên ứng nghiệm.