Trong Lục hào, Nhật thần là dùng Thiên can và địa chi tổ hợp để biểu thị. Mười Thiên can, mười hai Địa chi, mỗi sáu mươi ngày lặp lại một lần, mười ngày một tuần, tổng cộng lục tuần. Vì can chi không khớp nhau, mỗi tuần đều có hai địa chi không có Thiên can để khớp, hai địa chi đó là tuần không. Tuần không trong Lục hào dự đoán khá trọng yếu, quan hệ đến cát hung cùng ứng kỳ, mỗi quẻ đều cần tra rõ.
Tuần không cũng được gọi là lục giáp không vong, lục giáp chỉ giáp, Giáp Tuất, Giáp Thân, Giáp Ngọ, Giáp Thìn, Giáp Dần. Từng không vong là: Giáp Tý Tuất Hợi không, Giáp Tuất Thân Dậu không, Giáp Thân Ngọ Mùi không, Giáp Ngọ Thìn Tị không, Giáp Thìn Dần Mão không, Giáp Dần Tý Sửu không. Lục giáp không vong, trong tuần là không vong, một khi xuất tuần liền không còn là không vong, mà không vong biến thành hai địa chi khác.
Khi dự đoán tật bệnh, Dụng thần gặp tuần không, nếu là bệnh gần, ngày, tháng thực không, xung không thì lành bệnh. Nếu là bệnh lâu gặp không, ngày, tháng thực không, xung không thì xấu. Trong quẻ gặp nguyên thần tuần không phát động, ngày, tháng xung không, thực không thì lành bệnh, kị thần tuần không phát động, ngày, tháng kị thần thực không, xung không là xấu.
Hào tuần không nếu là yên tĩnh bất động, thì phân ra hữu Dụng hoặc vô dụng. Hào không mà vượng tướng, có Nhật, Nguyệt, hào động sinh phù, thì là hữu Dụng. Hào không mà hưu tù vô khí thì vô dụng. Dụng thần sợ hưu tù không phá, không được sinh phù, kị thần cần gặp hưu tù không phá, yên tĩnh bất động. Phi thần nên tuần không, bị khắc, gặp xung (phi thần là kị thần). Tóm lại, hào gặp tuần không phát động liền có thể có tác dụng, hào vượng tướng gặp không cũng có sức mạnh tham dự vào sinh khắc; có Nhật, Nguyệt, hào động sinh phù, không vong cũng có sức mạnh, động mà hóa không, phục mà vượng tướng, đều là có khí, sẽ không phải thực là không. Chỉ có phá mà suy, hưu tù vô khí bất động, phục mà bị khắc lại gặp tuần không mới là không có lực.
Ví dụ 1: ngày Mậu Tý tháng Ngọ, một chiến sĩ vũ cảnh xem cát hung, được quẻ Trạch Sơn Hàm.

TUẦN KHÔNG: Ngọ, Mùi
Lấy hào Thế làm Dụng thần. Hào Thế bị Nguyệt kiến khắc, Nhật thần không sinh là hưu tù. Kị thần quan quỷ Ngọ hỏa lâm Nguyệt, Nhật xung là ám động. Kị thần ám động khắc Thế, kị thần là Quan quỷ, Quan quỷ chủ bệnh, thế lâm Bạch Hổ, Bạch Hổ chủ bệnh, tất có bệnh. Ngọ hỏa tuần không, ngày Giáp Ngọ xuất không, kị thần xuất không, hào Thế nhất định bị tổn thương.
Quẻ thuộc Đoài cung, đoài là kim, kim là đại tràng, đây là tượng đại tràng có bệnh. Sáu ngày sau, kị thần xuất không, xác định là bệnh. Kết quả ngày Giáp Ngọ xác định bị bệnh kiết lỵ, bệnh chữa hơn một tháng mới khỏi.
Ví dụ 2: ngày Tân Sửu tháng Tuất, một binh sĩ xem điều đến đơn vị khác có cơ hội thăng quan hay không? Được quẻ Phong Địa Quán.

TUẦN KHÔNG: Thìn, Tị
Lấy Quan quỷ làm Dụng thần. Phụ mẫu trì Thế ám động, Phụ mẫu là đơn vị làm việc, người này tham gia quân ngũ, có thể hiểu là đơn vị đóng quân, ám động, chính là thầm nghĩ sẽ biến động. Nhưng mục đích là thăng quan, tất lấy Quan quỷ làm chủ để phán đoán. Quan quỷ Tị hỏa lưỡng hiện, nhưng không được Nhật Nguyệt sinh phù là hưu tù, lại lâm không vong, không nên không thể sinh hào Thế, tất khó thăng quan.
Sau không được thăng quan liền phục viên.