Tác dụng của Nhật thần

Thời gian trôi đi vĩnh viễn sẽ không trở lại, từ góc độ Dịch Học mà xem, vũ trụ có pháp tắc cùng quy luật nhất định, mỗi sáu mươi ngày lại lặp lại một lần. Cổ nhân rất sớm đã phát hiện ra quy luật này nên dùng Mười thiên can và mười hai Địa chi tổ hợp thành lục thập hoa giáp, biểu thị cho quy luật này. Bởi vậy, trong Lục hào dự đoán, Nhật thần cũng phi thường trọng yếu, nó có tác dụng cực lớn trong việc phán đoán cát hung.

Nhật thần là chúa tể sáu hào, một tháng ba mươi ngày, mỗi ngày đều có Nhật thần chủ sự, lục thập hoa giáp tuần hoàn vòng đi vòng lại, thay phiên trực Nhật. Nhật thần cùng Nguyệt kiến giống nhau có thể tác dụng đến tất cả các hào trong quẻ. Nguyệt lệnh chỉ có thể ở trong tháng có tác dụng, khi qua Tiết, liền do tháng sau chấp chưởng quyền hành, mà Nhật thần thì bốn mùa đều vượng, quyền sinh quyền sát. Trong quẻ hào bị Nguyệt kiến khắc thương nhưng được Nhật thần sinh phù, tức là cân sức cân tài, không vượng không suy. Hào gặp Nguyệt phá, Nhật thần nhập hào là thực phá. Hào tĩnh vượng tướng, Nhật thần xung là ám động, hào hưu tù, Nhật thần xung là Nhật phá; hào tuần không, Nhật thần xung khởi, xung thực; hào gặp hợp, Nhật thần xung khai; hào gặp xung, Nhật thần có thể hợp trú. Hào suy yếu, Nhật thần có thể sinh phù tỷ hợp. Hào vượng tướng, Nhật thần có thể khắc, xung, hình, tuyệt, mộ. Hào hưu tù gặp Nhật xung, thì tán, hào vượng tướng phát động, Nhật thần xung, động càng mạnh.

Tóm lại, hào vượng tướng, được Nhật thần sinh phù, như dệt hoa trên gấm, hào suy yếu, bị Nhật thần khắc chế, thì như tuyết càng thêm sương. Dụng thần, nguyên thần cần Nhật thần sinh phù; kị thần, cừu thần cần Nhật thần khắc thương.

Ví dụ 1: ngày Mậu Thân tháng Dần, một hoạ sĩ xem bức tranh đang vẽ có bán được hay không, được quẻ Thủy Lôi Truân.

TUẦN KHÔNG: Dần, Mão

Bán tranh là thu lợi, cho nên lấy Thê tài làm Dụng thần. Thê tài Ngọ hỏa không hiện lên quẻ, phục dưới hào ba Quan quỷ Thìn thổ, phục sinh phi, có chút tiết khí, nhưng Dụng thần được Nguyệt sinh phù, là vượng tướng. Nguyên thần Tử tôn Dần mộc trì Thế, không lại được Nhật xung thực, tĩnh mà bị Nhật xung, hình thành ám động, tranh nhất định có thể bán được.

Một tháng sau tranh của anh ta được một cái người Hàn Quốc mua.

Chú thích: Hào tĩnh lâm không bị Nhật xung sẽ vừa xung không vừa ám động

Ví dụ 2: ngày Canh Ngọ tháng Hợi, một người đàn ông đến bệnh viện khám bệnh thì bị mất tiền, hỏi có tìm được hay không? Được quẻ Bát Thuần Cấn biến Lôi Sơn Tiểu Quá.

Lấy Thê tài làm Dụng thần. Thê tài Tý thủy được Nguyệt kiến Hợi Thủy tỷ hòa là vượng, Nhật thần xung là ám động. Nhưng Huynh đệ Tuất thổ động khắc Dụng thần. Dụng thần được Nguyệt trợ giúp, kị thần được Nhật sinh phù, cả hai suy vượng tương đương. Nhưng Huynh đệ Tuất thổ động hóa hồi đầu sinh, hào biến lại có Nhật thần giúp đỡ, sinh trợ kị thần hữu lực, là không tốt. Quan quỷ trì Thế, động mà hóa kị thần, hào Thế là chính mình, kị thần là nhân tố bất lợi, tiền mình bị mất. Tài tại hào năm, hào năm là đường đi, tiền là rơi trên đường. Dụng thần bị Phụ mẫu lâm Nhật xung, Phụ mẫu là quần áo, quẻ ngoại là nửa người trên, tiền là rơi từ túi áo. Rất khó tìm về.

Quả nhiên là trên đường đến bệnh viện, anh ta móc túi áo không cẩn thận rơi mất, về sau không tìm được.

Mục lục sách

Mục lục chương

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *