Tiết 2: Luận về Phù sơn

An táng, lấy bổ long làm trọng, phù sơn xếp thứ hai.

Xây dựng, lấy phù sơn làm trọng, bổ long xếp thứ hai. Nếu long và sơn đồng khí thì việc bổ long cũng chính là phù sơn.

Nếu long và sơn khác khí, vẫn phải tuân theo nguyên tắc: an táng lấy bổ long làm trọng, xây dựng lấy phù sơn làm trọng.

Long cần bổ, sơn cần phù.

Cách bổ long đã được giới thiệu ở tiết trước, bây giờ nghiên cứu vấn đề phù sơn.

Nguyên tắc của phù sơn là: trước tiên sơn gia phải có lợi, sau đó ngũ hành phải vượng tướng, rồi mới chọn ngày để phối thành bát tự hợp cách.

  1. Sơn gia có lợi

Yêu cầu để sơn gia có lợi là: tọa sơn phải được nâng đỡ, không nên bị khắc phá.

(1) Phù khởi

Thế nào gọi là phù khởi? Phù khởi nghĩa là sơn gia có cát thần chiếu, không bị các hung sát chiếm giữ, và bát tự được chọn phải tương hợp, không xung không khắc, lại hợp với sơn, tạo nên hiện tượng có lợi cho sơn.

(2) Khắc đảo

Thế nào gọi là khắc đảo? Khắc đảo nghĩa là Thái tuế xung sơn hoặc bị Tam sát, Âm phủ, vận khắc sơn… là các đại hung sát chiếm giữ sơn đầu, khiến nhật khóa bất lợi cho sơn gia.

  1. Ngũ hành vượng tướng

Sự vượng suy của ngũ hành chủ yếu dựa vào nguyệt lệnh để phản ánh. Ngũ hành của các sơn gia khác nhau sẽ có quy luật nhất định theo nguyệt lệnh ở các mùa khác nhau trong năm. Sau đây là tóm lược nguyệt lệnh vượng tướng của ngũ hành sơn gia:

1) Sơn thổ ngũ hành vượng tướng

Do thổ có dương thổ, âm thổ và loại nửa âm nửa dương, nên:

Cấn thổ thuộc dương, vượng trước Lập Xuân.

Khôn thổ thuộc âm, vượng sau Lập Thu.

Thìn, Tuất thuộc loại nửa dương; Sửu, Mùi thuộc loại nửa âm.

Trong bốn mộ khố thổ sơn, mỗi mùa có tháng riêng, mỗi tháng lại vượng 18 ngày, cụ thể:

Thìn thổ vượng trước tiết Lập Hạ 18 ngày.

Mùi thổ vượng trước tiết Lập Thu 18 ngày.

Tuất thổ vượng trước tiết Lập Đông 18 ngày.

Sửu thổ vượng trước tiết Lập Xuân 18 ngày.

2) Sơn mộc ngũ hành vượng tướng

Sơn mộc vượng vào mùa xuân.

Từ Đông chí đến Lập Xuân: giai đoạn tiến khí của sơn mộc, gọi là mộc sơn hướng lệnh.

Từ Lập Xuân đến Xuân phân: giai đoạn chính khí của sơn mộc, gọi là mộc sơn đắc lệnh.

Từ Xuân phân đến Cốc Vũ (sách Hiệp Kỷ Biện Phương Thư chú là tiết Thanh Minh): giai đoạn vượng khí của sơn mộc, gọi là mộc sơn hóa lệnh.

3) Sơn hỏa ngũ hành vượng tướng

Sơn hỏa vượng vào mùa hè.

Từ Lập Xuân đến Xuân phân (sách Hiệp Kỷ Biện Phương Thư chú là tiết Kinh Trập): giai đoạn tiến khí của sơn hỏa, gọi là hỏa sơn đắc lệnh.

Từ Lập Hạ (sách Hiệp Kỷ Biện Phương Thư chú là tiết Tiểu Mãn) đến Hạ chí: giai đoạn vượng khí của sơn hỏa, gọi là hỏa sơn hóa lệnh.

4) Sơn kim ngũ hành vượng tướng

Sơn kim vượng vào mùa thu.

Từ Lập Hạ (sách Hiệp Kỷ Biện Phương Thư chú là tiết Mang Chủng) đến Hạ chí: giai đoạn tiến khí của sơn kim, gọi là kim sơn hướng lệnh.

Từ Hạ chí đến Lập Thu: giai đoạn chính khí của sơn kim, gọi là kim sơn đắc lệnh.

Từ Lập Thu (sách Địa Kỷ Biện Phương Thư chú là tiết Xử Thử) đến Sương Giáng (sách Hiệp Kỷ Biện Phương Thư chú là tiết Thu phân): giai đoạn vượng khí của sơn kim, gọi là kim sơn hóa lệnh.

5) Sơn thủy ngũ hành vượng tướng

Sơn thủy vượng vào mùa đông.

Từ Lập Thu đến Thu phân (sách Hiệp Kỷ Biện Phương Thư chú là tiết Bạch Lộ): giai đoạn tiến khí của sơn thủy, gọi là thủy sơn hướng lệnh.

Từ Thu phân đến Lập Đông (sách Hiệp Kỷ Biện Phương Thư chú là tiết Sương Giáng): giai đoạn chính khí của sơn thủy, gọi là thủy sơn đắc lệnh.

Từ Lập Đông đến Tiểu Hàn (sách Hiệp Kỷ Biện Phương Thư chú là tiết Đông Chí): giai đoạn vượng khí của sơn thủy, gọi là thủy sơn hóa lệnh.

  1. Chọn ngày để phù sơn

Phương pháp chọn ngày phù sơn là chọn nhật khóa trong mùa, tháng có ngũ hành vượng tướng tương ứng, nhằm giúp vượng sơn gia.

Trong thời kỳ hướng lệnh, chọn ngày là giai đoạn sơn gia được thụ tinh, dưỡng thai, gọi là thai tức nhật của sơn gia.

Trong thời kỳ đắc lệnh, chọn ngày là giai đoạn sơn gia được bồi dưỡng căn cơ, gọi là bồi nguyên nhật của sơn gia.

Trong thời kỳ hóa lệnh, chọn ngày là giai đoạn sơn gia được hưởng phúc lộc, gọi là tài lộc nhật của sơn gia.

  1. Luận cát hung khi phù sơn

Nếu Thái tuế chiếm sơn, lại gặp Mậu Kỷ Đô Thiên, Âm phủ, hoặc vận niên khắc sơn chồng lặp, thì đại hung.

Nếu Thái tuế chiếm sơn, lại gặp đả đầu hỏa, kim thần, thì thứ hung.

Nếu Thái tuế chiếm sơn, không gặp các hung sát nói trên, mà bát tự nhật khóa hình thành tam hợp phù sơn cục thì cát; nếu lại được Tam kỳ đồng đến, thì đại cát.

Nếu có Thái dương, Thái âm, Nhâm thủy đức, Quý thủy đức, Tử bạch, Tam kỳ, hoặc hai, ba loại cát thần đến sơn, thì đại cát.

Nếu trong tứ trụ nhật khóa có lộc, mã, quý nhân đến sơn, hợp sơn, giáp sơn, củng sơn, thì đại cát.

Nếu là chân lộc, chân mã, chân quý nhân của gia chủ, lại lấy Thái tuế nhập trung cung, độn đến sơn hoặc đến hướng, thì đại cát.

Nếu là tuế quý, tuế lộc, tuế mã, lại lấy Nguyệt kiến nhập trung cung, độn đến sơn hoặc đến hướng, thì cát.

Bát tự nhật khóa nên phù sơn, hợp sơn hoặc cùng sơn tỷ trợ một khí, hoặc ấn thụ sinh sơn, hoặc lộc quý đến sơn thì đều cát. Kỵ nhất là địa chi tương xung, đặc biệt kỵ thiên can khắc sơn. Chỉ riêng sơn Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thì không quá kỵ xung, nhưng nếu là tuế xung (phá) thì cũng hung; nếu trong tháng, ngày, giờ chỉ có một chi xung thì không sao, nhưng nếu nhiều xung thì bất lợi, vì xung nhiều dễ phá và sinh hung.

Nếu trong tứ trụ nhật khóa có nạp âm khắc vận sơn, thì nếu gặp năm khắc, tháng khắc thì kỵ tu tạo, vì khó chế ngự. An táng thì lấy nạp âm của ngày, tháng chế lại, và sự chế này phải đương lệnh, đắc lực; bên bị khắc phải ở trạng thái hưu tù, vô lực, mới có thể yên ổn.

Nếu dương trạch vốn đã có nhà cửa, muốn tu sửa sơn kiêm tu phương, thì phải kiêng Đại Nguyệt kiến, Tiểu Nguyệt kiến và các hung sát như Kim thần, Thất sát.

Mục lục sách

Mục lục chương

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *