Thế nào là tương chủ?
Tương chủ là chỉ việc lựa chọn nhật khóa bát tự có thể hỗ trợ và phù hợp với mệnh của đương sự – người chủ trong công việc được tiến hành.
Tuy nhiên, “mệnh” ở đây không phải chỉ sinh thần bát tự của đương sự, mà là chỉ năm mệnh khi sinh của người đó. Thông thường, trong Ngũ hành trạch nhật học, việc luận mệnh đều lấy năm mệnh làm chủ, không luận đến ngày sinh.
Bởi vì, trong trạch nhật học truyền thống, năm mệnh là “nhân nguyên” của đương sự – tức là gốc của nhân nguyên, cũng gọi là thể của nhân nguyên; còn ngày sinh là cành lá của nhân nguyên, cũng gọi là dụng của nhân nguyên. Khi chọn ngày, từ năm mệnh xuất phát để bảo đảm thể của nhân nguyên không bị tổn hại, gốc không bị đảo lộn, lại phù hợp với bổ long phù sơn thì là cát; hà tất phải vì ngày sinh mà tìm sự tươi tốt ngắn ngủi của cành lá, chỉ có thể hưởng thụ một chốc lát rồi nhanh chóng lụi tàn và biến mất?
Sách cổ ghi lại: Vào năm Bính Thìn niên hiệu Khang Hy triều Thanh, một thầy trạch nhật họ Lý ở Quảng Châu chủ trương dùng ngày sinh của mệnh chủ để chọn nhật khóa cưới hỏi, gây hại cho nhiều người; mọi người chứng kiến, phần lớn con cháu sau khi cưới hỏi theo cách đó đều mắc phải bệnh nan y. Đến năm Ất Sửu, một thầy trạch nhật họ Trần ở huyện Tân An, Quảng Đông, vận dụng kiến thức mệnh lý, lấy ngày sinh (không luận năm mệnh) để chọn nhật khóa dựng xây, kết quả chưa đầy hai mươi năm, đa số gia đình đều tuyệt tự. Vì thế, dân gian rất bài xích việc coi trọng ngày sinh (không luận năm mệnh) để chọn khóa, khiến cho phương pháp chọn ngày tốt dựa trên ngày sinh chưa bao giờ có chỗ đứng.
- Phân loại đương sự
Trong tương chủ, đương sự có các tên gọi chuyên biệt như sau: Tạo chủ, Tu chủ, Hóa mệnh, Tế chủ.
Tạo chủ: Chỉ đương sự là người chủ trong việc dựng xây dương trạch mới.
Tu chủ: Chỉ đương sự là người chủ trong việc sửa chữa (hoặc cải tạo) phương vị của dương trạch cũ.
Hóa mệnh: Chỉ chính người đã qua đời được an táng, còn gọi là trưởng vong mệnh.
Tế chủ: Chỉ đương sự là người chủ trong việc an táng âm trạch, cũng gọi là Tự chủ.
Hai, Nguyên tắc tương chủ
- Âm dương nhị trạch có tương chủ khác nhau
Dương trạch: Dù là dựng xây mới hay sửa phương vị, đều lấy gia chủ (tạo chủ hoặc tu chủ) và chủ phụ làm chính, các chủ khác làm phụ.
Âm trạch: Dù là an táng, táng kèm, hay tế sơn, đều lấy hóa mệnh làm chính, tế chủ kế tiếp, các chủ khác làm sau.
- Nguyên tắc tương chủ
Khi xác định năm mệnh của người cần làm chủ, việc tương chủ yêu cầu lấy thiên can làm chính (hoặc kiêm xét địa chi), xét sự phối hợp với cách cục hình thành trong tứ trụ bát tự của nhật khóa:
Cách hợp Quan hoặc hợp Tài: Hợp Quan thì được quý, hợp Tài thì được giàu. Đây là do hợp thì hữu tình, không hợp thì vô tình.
Cách Tỷ kiên: Dùng Tỷ kiên để giúp vượng thân của tương chủ, tăng thêm sức lực.
Cách Ấn thụ: Dùng Ấn thụ để sinh vượng thân của tương chủ, sinh lực mạnh.
Cách Trường sinh: Dùng Tứ trường sinh để trợ vượng thân của tương chủ, tăng sinh lực.
Cách Lâm quan: Thúc vượng thân của tương chủ, hợp lực.
Cách Lộc mã quý nhân: Trợ vượng thân của tương chủ, phát huy tác dụng.
Ba, Những điều cần chú ý trong tương chủ
Địa chi bản mệnh tuyệt đối tránh tứ trụ địa chi tương xung. Nếu thêm thiên can khắc mệnh thì gọi là thiên khắc địa xung, cực hung, càng phải tránh. Trong tứ trụ tứ xung, Thái tuế xung mệnh là hung nhất, tháng xung đứng thứ hai, ngày xung tiếp theo, giờ xung là nhẹ nhất. Bản mệnh Dương nhẫn. Tứ trụ tuyệt đối tránh gặp nhiều.
Ví dụ: Mệnh Giáp kỵ chữ Mão (Đế vượng) là nhẫn, gặp lại nhiều lần là hung. Sát của bản mệnh chỉ có Thiên cang tứ sát. Thiên cang tứ sát tức là Tuế sát.
Khi sửa dương trạch thì kỵ gặp gia chủ có sát này; khi an táng thì kỵ gặp hóa mệnh và tế chủ; dù là ngày cát cũng không thể chế hóa.
Cần chú ý khi chọn ngày:
Người sinh năm Dần, Ngọ, Tuất thuộc hỏa, kỵ trong năm, tháng, ngày, giờ Sửu mà làm bốn sơn hướng Giáp, Ất, Canh, Tân.
Người sinh năm Thân, Tý, Thìn thuộc thủy, kỵ trong năm, tháng, ngày, giờ Mùi mà làm bốn sơn hướng Giáp, Ất, Canh, Tân.
Người sinh năm Tỵ, Dậu, Sửu thuộc kim, kỵ trong năm, tháng, ngày, giờ Thìn mà làm bốn sơn hướng Bính, Đinh, Nhâm, Quý.
Người sinh năm Hợi, Mão, Mùi thuộc mộc, kỵ trong năm, tháng, ngày, giờ Tuất mà làm bốn sơn hướng Bính, Đinh, Nhâm, Quý.
Bốn, Mệnh thực lộc là cát nhất
Có thể thúc đẩy quan lộc, đây chính là lộc của thực thần trong bản mệnh. Trong tứ trụ bát tự, nếu dùng được ba hoặc bốn điểm thì đều là cát; hoặc sửa phương vị thực lộc cũng là điều tốt.
Ví dụ: Mệnh Giáp lấy Bính làm thực thần, lộc của Bính ở Tỵ, trong tứ trụ nhiều chữ Tỵ thì cát; hoặc sửa phương vị Tỵ cũng cát.
- Tam hợp và Lục hợp
Tam hợp có sức mạnh hơn Lục hợp, nhưng nếu mệnh của đương sự thích hợp Lục hợp với bát tự của nhật khóa thì lấy Lục hợp làm chính, tam hợp đứng thứ hai. Chỉ khi tam hợp có tác dụng hàng sát thì mệnh của đương sự và bát tự nhật khóa cùng thành tam hợp mới là tốt.
Sơn hướng cũng nên hợp tam hợp với bát tự nhật khóa thì cát, lúc này Lục hợp chỉ là yếu tố phụ.
- Tọa sơn và lai long
Tọa sơn và lai long đều được luận theo can, chi của mệnh, nhưng trong 24 sơn hướng ít dùng chữ Mậu, Kỷ, mà phần nhiều dùng bốn chữ Càn, Khôn, Cấn, Tốn. Khi dùng Lộc, Mã, Quý nhân thì: Càn cùng Hợi đồng cung. Khôn cùng Thân đồng cung. Cấn cùng Dần đồng cung. Tốn cùng Tỵ đồng cung.
Ví dụ: Nếu tứ trụ dùng chữ Nhâm thì lộc đến Càn, Hợi. Nếu dùng Bính, Đinh thì quý nhân đến Càn, Hợi. Nếu dùng Tỵ thì mã đến Càn, Hợi. Khôn, Cấn, Tốn cũng luận tương tự. Nếu Càn, Cấn, Tốn sơn dùng Trường sinh, Ấn thụ thì: Càn kim đồng với Canh kim, Khôn thổ đồng với Mậu thổ, Cấn thổ đồng với Kỷ thổ, Tốn mộc đồng với Ất mộc
- Dịch mã xung sơn
Nếu dịch mã xung vào sơn thì nên lấy hướng đó. Ví dụ: Sơn Dần, dịch mã ở vị trí Thân, kỵ chữ Thân xung sơn Dần; thì trong tứ trụ nhiều chữ Dần vừa có thể trợ sơn Dần, vừa là sao Mã đến hướng Thân. Lộc, Quý nhân đến hướng đều cát, nên vận dụng linh hoạt.
- Bản mệnh phi độn chân lộc, chân quý, chân mã
Tức là chi và can đều đầy đủ. Đây là cách lấy Thái tuế nhập trung cung, phi độn đến sơn hướng trung cung; dựng xây, an táng, an giường, nhập trạch đều đại cát; sửa phương vị thì nên đến phương đó.
Ví dụ: Người sinh năm Giáp Tý, Dần là lộc mã, Sửu và Mùi là quý nhân. Năm Giáp, Ngũ hổ độn thì: Dần là Bính Dần, Sửu là Đinh Sửu, Mùi là Tân Mùi. Năm Ất Sửu, khi sửa tác lấy Thái tuế Ất Sửu nhập trung cung, đếm thuận: Bính Dần đến Càn 6, thì Càn là lộc mã. Tân Mùi đến Khôn 2, thì Khôn là dương quý nhân. Đinh Sửu đến Cấn 8, thì Cấn là âm quý nhân. Ba phương Càn, Khôn, Cấn đều cát để sửa tác.
Bốn, Quan hệ giữa tương chủ, đương sự và các thần sát cát hung
Tương chủ có tạo chủ, tu chủ, hóa mệnh, tế (tự) chủ, ngoài ra còn có chúng chủ là những người liên quan trong công việc. Nội dung chính gồm hai phương diện:
- Quan hệ giữa phi độn chân lộc, chân mã, chân quý của mệnh chủ
Khi dùng Lộc, Mã, Quý nhân, nhất định phải để mệnh chủ có chân lộc, chân mã, chân quý nhân đến phương thì mới thật sự tương hợp.
Dựng xây lấy bản mệnh của gia chủ, an táng lấy bản mệnh của người mất làm chủ.
Ví dụ: Mệnh Bính Tý, lộc ở Tỵ, mã ở Dần, dương quý ở Dậu, âm quý ở Hợi. Dùng Ngũ hổ độn: Bính, Tân khởi Canh Dần; Canh Dần là chân mã của mệnh chủ, Quý Tỵ là chân lộc, Đinh Dậu là chân dương quý, Kỷ Hợi là chân âm quý. Suy ra: Canh Dần ở Khôn là chân mã, Quý Tỵ ở trung cung là chân lộc, Đinh Dậu ở Ly là chân dương quý, Kỷ Hợi ở Khôn là chân âm quý
Như vậy, Khôn, Ly, Trung ba cung đều được chân lộc, mã, quý nhân đến. Mệnh chủ có chân lộc, mã, quý nhân lại đồng thời gặp chân lộc, mã, quý nhân của Thái tuế, thì dựng xây, an táng đều cát. Các trường hợp khác có thể suy luận tương tự.
- Quan hệ giữa bản mệnh đương sự và các thần sát cát hung của can chi dùng việc
3. Quan hệ giữa ngày an táng và nạp âm của hóa mệnh