Đầu tiên chuẩn bị không vong, Nguyệt phá, ám động để tham khảo khi phán đoán, sau đó bắt đầu tìm Dụng thần, sau khi xác định được Dụng thần, xem Nhật Nguyệt tác dụng thế nào với Dụng thần? Vì Nhật Nguyệt là căn bản, Dụng thần có gốc rễ hay không, xấu nhưng không mất gốc rễ, toàn bộ nhờ tác dụng của Nhật Nguyệt đối với Dụng thần để kết luận.
Nếu như tromg quẻ có hào động, cần xem tác động của hào động đối với Dụng thần. Hào động thường thường biểu thị xu thế phát triển của sự vật và quá trình phức tạp. Khi phán đoán quay chung quanh Dụng thần, gia nhập hào vị, lục thần, mười hai cung trường sinh để tổng hợp phán đoán. Nếu như không có hào động thì phải nhìn hào vượng tướng có tác dụng gì với Dụng thần.
Sau đây đưa ra ví dụ, hi vọng mọi người thông qua ví dụ này có bước nhận biết sơ khởi khi đoán quẻ.
Ví dụ: ngày Nhâm Dần tháng Mão một tổng giám đốc xem công ty phát triển như thế nào? Được quẻ Trạch Lôi Tùy.
TUẦN KHÔNG: Thìn Tị
Chấn cung: Trạch Lôi Tùy (quy hồn) Chấn cung: Trạch Lôi Tùy (quy hồn)

(1) Gieo xong được một quẻ, đầu tiên tìm hào Nguyệt phá, không vong và phục thần, để lúc đoán thì có căn cứ, nếu không có người không nhìn sẽ bỏ lỡ rất nhiều chi tiết, có khi thậm chí bởi vì không nhìn ra hào Nguyệt phá cùng không vong mà ảnh hưởng đến cát hung thành bại. Nguyệt phá không vong tác dụng rất lớn đối với hào, nhất là Dụng thần, nguyên thần, kị thần, nhất định phải đem những tác dụng này cân nhắc kỹ lưỡng, như vậy mới có thể vạn vô nhất thất mà nắm chặt chuyện cát hung thành bại.
Nếu như Nguyệt phá, không vong không liên quan thì có thể vứt bỏ mà không nhìn. Từ quẻ này, chúng ta đầu tiên có thể tìm thấy hào năm Quan quỷ Dậu kim là Nguyệt phá, hào Thế Thê tài Thìn thổ là không vong, nguyên thần Tử tôn Ngọ hỏa không hiện lên quẻ. Sau khi tìm ra những điều kiện này, cần xem hào nào làm trung tâm triển khai phán đoán, đây chính là tìm Dụng thần.
(2) người này chủ yếu là dự đoán tình huống phát triển công ty, cho nên hẳn là lấy tài hào làm Dụng thần, tài hào vượng tướng, liền có thể phát triển rất tốt, nếu như tài hào hưu tù thì không có lợi ích, công ty sẽ đóng cửa. Sau khi tìm được Dụng thần cần xem Dụng thần suy vượng. Nếu như Dụng thần lưỡng hiện, lại cần tập trung ở một hào Dụng để phán đoán, một hào khác làm tham khảo. Trong quẻ này, Thê tài lưỡng hiện, nên lấy Thê tài Thìn thổ trì Thế lâm không vong là Dụng thần.
(3) Dụng thần suy vượng, đầu tiên là từ tác dụng của Nhật Nguyệt đối với Dụng thần để cân nhắc, Dụng thần được Nhật Nguyệt sinh phù trợ giúp, Nhật Nguyệt làm gốc, Dụng thần được Nhật Nguyệt sinh phù trợ giúp là có rễ, Nhật Nguyệt không sinh trợ Dụng thần, cũng không khắc Dụng thần, Dụng thần mặc dù hưu tù, nhưng không hỏng rễ, nếu được hào động sinh, không có khắc tiết, liền đoán tốt, nếu như Nhật Nguyệt đều khắc Dụng thần, Dụng thần sẽ không có gốc rễ, nếu như không phải Dụng thần tự thân phát động hóa hồi đầu sinh, thì đều đoán là xấu, quẻ này Dụng thần Thê tài Thìn thổ, bị Nhật Nguyệt khắc chế là không có rễ.
Đây là quẻ tĩnh Dụng thần không hề động mà hóa hồi đầu sinh, Dụng thần không có chút nào sinh cơ. Không có hào nào động trong quẻ, hào vượng tướng liền có thể sinh phù hào hưu tù, cũng có thể khắc chế hào hưu tù, sinh phù Dụng thần nguyên thần, Tử tôn Ngọ hỏa phục tàng. Mà khắc chế Dụng thần là Huynh đệ Dần mộc lại được Nhật Nguyệt tỷ hòa, vượng mà khắc Dụng thần. Cho nên muốn hỏi công ty phát triển tiền cảnh như thế nào liền khẳng định không tốt. Thê tài hưu tù lại không vong, nói rõ kinh tế tràn ngập nguy hiểm, nguy hiểm từ lúc nào, đây chính là ứng kỳ phán đoán.
(4) phán đoán ứng kỳ liền quay chung quanh Dụng thần và hào động tác dụng đến Dụng thần để tổng hợp phân tích, các loại ứng kỳ phán đoán, tham khảo chương ứng kỳ. Quẻ này không hề có hào động, hết thảy phán đoán quay chung quanh Dụng thần, Nhật Nguyệt khắc Dụng thần, nhưng Dụng thần không vong, đây là gặp không tạm thời khó khắc, nếu xuất không bị khắc, công ty liền sẽ phá sản. Bởi vì đây là quẻ tĩnh, biểu thị sự vật cát hung phát triển không phải chuyện một ngày hai ngày, cho nên phán đoán ứng kỳ, thường dùng tháng để phán đoán, hiện tại là tháng Mão, tháng sau chính là tháng Thìn, tháng Thìn đúng lúc là Dụng thần xuất không. Cho nên tháng Thìn sợ sẽ có nguy cơ phá sản. Quẻ bình thường, đem cát hung cùng ứng kỳ đoán xong được coi như hoàn thành nhiệm vụ, nhưng nếu như lại tiếp tục cân nhắc, còn có thể phán đoán các chi tiết khác.
(5) hào Thế cùng hào năm tương hợp, hào năm là hào vị lãnh đạo, hào Thế sinh hợp hào năm, chính là anh ta muốn làm tổng giám đốc công ty, nghĩ mình sẽ làm vị trí đó. Thế lâm Chu Tước không vong, Chu Tước là nói chuyện, đàm luận, nhưng gặp không vong, đa số sẽ là xuất hiện kết quả tương phản. Nói rõ người này khẩu tài không được, không biết ăn nói. Hào năm Quan quỷ Nguyệt phá, lại tuyệt ở Nhật, cùng hào không vong Thìn thổ tương hợp, biểu thị nguyên lai người ở vị trí lãnh đạo tiêu vong. Hào năm lâm Đằng Xà, Đằng Xà chủ chết nói rõ lãnh đạo chết rồi, chết như thế nào? Quan quỷ Dậu kim bị mộc (Mão) đến xung phá, lại tuyệt ở mộc (Dần), lâm Đằng Xà, Đằng Xà là dây thừng, hào năm là cổ. Mộc thêm Đằng Xà đối Dụng thần bất lợi là treo cổ tự sát.
Tình huống thực tế, nguyên công ty tổng giám đốc bởi vì công ty nợ nần mà treo cổ tự sát. Người đến xem là người kế nhiệm, cũng không thay đổi được cục diện công ty, đến tháng Thìn Công ti không cách nào duy trì, đành phải tuyên cáo phá sản.
Ví dụ 2: ngày Bính Dần tháng Tuất, một phụ nữ sinh năm 1961 người Nhật Bản hỏi về hôn nhân, được quẻ Địa Thiên Thái biến Sơn Hỏa Bí.
TUẦN KHÔNG: Tuất Hợi
Khôn cung: Địa Thiên Thái (lục hợp) Cấn cung: Sơn Hỏa Bí (lục hợp)

Đây là một quẻ có hào động phán đoán khác với quẻ tĩnh.
(1) đầu tiên tìm hào Nguyệt phá cùng không vong, quẻ này Thê tài Hợi Thủy không vong, hào Thế Huynh đệ Thìn thổ Nguyệt phá, đoán quẻ dính đến những hào này liền cần chú ý tới cách dùng.
(2) lấy Dụng thần, bởi vì là nữ hỏi hôn nhân, cho nên lấy Quan quỷ hào làm Dụng thần, bởi vì Quan quỷ hào là chồng. Dụng thần đã xác định chuẩn liền xem Nhật Nguyệt tác động đến Dụng thần như thế nào.
(3) Nguyệt kiến là Tuất thổ không có tác dụng sinh phù đối với Dụng thần nhưng cũng không khắc Dụng thần. Nhật thần có cùng địa chi với Dụng thần, có tác dụng tỷ hòa Dụng thần cho nên Dụng thần là vượng tướng.
(4) tiếp xem hào động tác động ra sao với Dụng thần. Đầu tiên Dụng thần tự thân phát động, bình thường mà nói, Dụng thần vượng tường an tĩnh, là hôn nhân ổn định. Nhưng quẻ này Dụng thần phát động, nói rõ hôn nhân sẽ có biến hóa. Dụng thần khắc thế, chồng đối nàng không tốt. Quan quỷ Dần mộc có cùng địa chi với năm 1998. Năm 1998 chồng sẽ đối xử khá tệ.
Xem xong Dụng thần, lại xem một chút các hào khác tác dụng đối với Dụng thần như thế nào. Trong quẻ hào sáu Tử tôn Dậu kim phát động đến khắc Quan quỷ Dần mộc, Dụng thần bị khắc, cũng là hôn nhân có vấn đề. Tổng hợp phán đoán liền có thể nói hôn nhân của cô không phải rất tốt. Quẻ lục hợp biến lục hợp, hôn nhân tạm thời vẫn còn tương đối ổn định. Nhưng lực của kị thần rất lớn, chia tay là chuyện sớm hay muộn.
(5) tiếp xuống chính là ứng kỳ, bởi vì Dụng thần được Nhật hỗ trợ, Nhật là hiện tại nên sắp tới sẽ không ly hôn. Nguyệt không khắc Dụng thần, cho nên tháng này cũng sẽ không ly hôn. Phán đoán ứng kỳ là xem suy vượng của Dụng thần và Kị thần, cũng như hào biến của Dụng thần và Kị thần. Tháng này sinh trợ kị thần, trước mắt quan hệ của hai người không phải rất tốt. Mà Dụng thần hóa Huynh đệ Sửu thổ, ám chỉ tháng Sửu hôn nhân khả năng sẽ có biến hóa.
Xem các tháng tiếp theo tác dụng với Dụng thần như thế nào. Tháng sau là tháng Hợi, sinh hợp Dụng thần, kị thần không được trợ, lực của Dụng thần lớn hơn kị thần, kị thần không khắc được Dụng thần. Cho nên tháng Hợi sẽ không ly hôn. Sau tháng Hợi là tháng Tý, tháng Tý giống với tháng Hợi, cũng là kị thần hưu tù, Dụng thần vượng tướng. Cho nên tháng Tý cũng không có khả năng ly hôn. Kế tiếp là tháng Sửu, tháng Sửu kị thần được trợ, Dụng thần không được sinh phù, mà vừa vặn có cùng địa chi với hào biến của Dụng thần. Cho nên tháng Sửu có khả năng ly hôn rất lớn.
(6) lại xem tiếp, khi Dụng thần phát động xem nó tác động đến các hào khác ra sao. Quẻ này Quan quỷ Dần mộc động mà hợp Thê tài Hợi Thủy, Thê tài là nữ nhân, Quan quỷ động mà hợp, bình thường sẽ nói chồng ngoại tình. Nhưng quẻ này Thê tài Hợi Thủy không vong, chuyện này là không tồn tại. Cho nên đoán quẻ cần xét không vong, Nguyệt phá. Không thể gặp hợp liền tùy tiện kết luận.
(7) nếu như lại tiếp tục phán đoán sâu hơn, cần kết hợp hào vị và lục thần của Dụng thần. Quẻ này Quan quỷ Dần mộc tại hào hai, hào hai là nhà, lâm Câu Trần, Câu Trần là chậm chạp, lười biếng, chồng cô ta không phải là người chịu khó, luôn luôn ở lại nhà. Quan quỷ Dần mộc động mà hợp Hợi Thủy, Thê tài Hợi Thủy có thể xác định là tiền, chồng cô ta vô cùng thích tiền, muốn có tiền. Nhưng Thê tài không vong, anh ta chẳng kiếm được bao nhiêu.
Số tiền này là từ đâu đạt được? Bởi vì hào Thế là tài khố, nói rõ tiền là do người xem giữ, chồng cô ta đòi tiền cô ta. Qua phân tích này, chúng ta cũng có thể thấy được chồng cô ta là dạng người gì —— hết ăn lại nằm, ở lại nhà không kiếm sống, chỉ đòi tiền vợ.
(8) tại tiếp tục phán đoán sâu hơn, có thể đem lục hợp cùng mười hai cung trường sinh để đoán. Cách dùng mười hai cung trường sinh là xem Nhật Nguyệt, hào động, hào Thế và Dụng thần có quan hệ như thế nào. Cách dùng kỹ càng có thể đọc quyển « Lục hào Quái lệ thuyết chân ». Quẻ này Nguyệt kiến Tuất thổ là đất dưỡng của Dụng thần Quan quỷ Dần mộc, lại thêm phu vị hào Ứng động mà đến hợp hào Thế, ứng là người khác, là tượng người khác bên cạnh ta. Cho nên chồng cô ta là ở rể, tức là chó chui gầm chạn.
Lại xem quan hệ giữa hào Thế và Quan quỷ Dần mộc. Hào Thế là người xem, đối với Quan quỷ Dụng thần mà nói, hào Thế là đất suy của Quan quỷ. Nói rõ chồng cô ta yếu thế hơn so với cô ta, cái yếu thế này có hai loại: một là năng lực không mạnh bằng, hai là có thể ít tuổi hơn. Phán đoán tuổi tác nhỏ hơn nhiều hay ít có nhiều phương pháp, quan trọng là vận Dụng linh hoạt. Theo mười hai địa chi sắp xếp trình tự, Dần mộc ở trước Thìn thổ, Dần mộc sẽ lớn hơn. Từ Dần mộc đếm tới Thìn liền không đúng, cho nên hẳn là nhìn khoảng cách từ hào Thế đến Dụng thần để phán đoán. Từ Thìn thổ đến Dần mộc, khoảng cách mười địa chi, cho nên đoán chồng cô ta nhỏ hơn vợ khoảng mười tuổi. Trên thực tế chồng cô ta sinh năm 1971, nhỏ hơn cô ta đúng 10 tuổi.
Kị thần Tử tôn Dậu kim là thai địa của Dụng thần. Thai là dự định, thai hợp hào Thế, nói cách khác người xem có dự định ly hôn. Dự đoán hôn nhân, phán đoán đến đây là quá kỹ càng và đầy đủ. Nhưng hào Thế Nguyệt phá, lâm Đằng Xà nên trước mắt tâm tình trạng thái của cô ta không tốt, vì Đằng Xà chủ bất an. Ta thấy cô ta thần sắc bất an, liền hỏi nàng có phải còn gì muốn hỏi hay không. Cô ta nói còn muốn xem về sức khỏe.
Việc này không có quan hệ gì với hôn nhân mà là một quẻ đoán nhiều việc. Người xem còn có vấn đề khác nên Dụng thần khác với lúc đầu, có thể không cần gieo lại quẻ, dùng quẻ này vẫn có thể phán đoán. Phán đoán sức khỏe bản thân, cần lấy Dụng thần khác.
(9) hào Thế là người xem, tin tức bất lợi đối với hào Thế chính là bệnh tật. Cho nên lấy hào Thế làm Dụng thần để phán đoán. Quẻ này hào Thế Nguyệt phá, Nhật thần đến khắc, hào hai Quan quỷ lại động đến tương khắc, nguyên thần không xuất hiện, hào Thế rất yếu, nếu như là chuyên môn dự đoán bệnh tật, liền phi thường không tốt. Nhưng quẻ này là hỏi thêm, cho nên không thể phán đoán cô ta nguy hiểm đến tính mạng mà chỉ là thân thể không tốt thôi.
(10) tiếp theo phân tích phán đoán cụ thể là bệnh gì thì có thể tham khảo sách « Lục hào dự đoán bệnh tật mới ».
Quẻ này thế tại hào ba, Ngũ Hành lâm thổ, quẻ cung lại là Khôn cung. Khôn cũng là thổ, chủ Tỳ vị, đồng thời hào ba lại là hào vị dạ dày, Nguyệt phá bị khắc, chính là dạ dày có bệnh. Hào Thế là đập chứa nước, thủy lại chủ thận, đồng thời Quan quỷ lâm Nhật khắc, hào ba là hào vị eo, Quan quỷ lâm Nhật tại hào hai, ba thì đa số eo không tốt, hào hai lại chủ chân, cho nên phán đoán cô ta thận hư, chân, eo bị đau. Hào sáu Tử tôn động mà hóa quan quỷ, hào sáu là đầu, Quan quỷ là bệnh, đem đối ứng bộ vị, cũng chính là đầu có bệnh. Lâm Thanh Long, Thanh Long chủ đau nhức, có bệnh đau đầu.
Mọi phán đoán toàn bộ ứng nghiệm.
Mục lục sách
Mục lục chương
- Mạn đàm Lục hào Thái Cực liệt biến
- Kị trì Thế có thật không được không?
- Tiến thần cùng thoái thần
- Tượng giải Trạch Lôi Tùy
- Thần sát có hữu Dụng trong Lục hào hay không?
- Luận phương cục trong Lục hào (tức tam hội cục)
- Quái thân có ý nghĩa gì trong Lục hào?
- Lục hào xạ phúc Dụng thần là gì?
- Gieo quẻ dùng xu nào được?
- Lấy sai quẻ nhưng đoán đúng đoán lý giải ra sao?
- Thiên can có tác dụng gì khi dự đoán không?
- Mới học đoán quẻ thì phải làm thế nào?
- Trong đêm giờ Tý gieo quẻ thì định ngày như thế nào?
- Lục hào có cần tham khảo hào từ để phán đoán không?
- Lục hào có thể dùng các phương pháp gieo quẻ khác không?
- Gieo quẻ rơi xu xuống đất thì làm sao?
- Quẻ do ai đến gieo!