Bài giảng thứ ba — Nhật kiến

Nhật thần có thể đối với tất cả các hào nghịch với Nhật thần mà sinh khắc chế hóa, hình xung phá hại; cũng có thể đối với tất cả các hào thuận với Nhật thần mà sinh hợp, củng phù. Điều này ví như trong một đơn vị có chính và phó lãnh đạo, đối với hào này là nhân viên mà nói, Nhật Nguyệt chính là hai vị lãnh đạo, ai nói lời nhân viên đều phải nghe. Khi ban cho hào sức mạnh, cơ bản lực lượng là tương cận. Nhật thần khác với tứ trị khác ở chỗ:

Một, Nhật thần nhập hào, giống như Nguyệt kiến, có thể trực tiếp đối với hào mà khởi tác dụng dẫn dắt chỉ thị.

Hai, Nhật thần nhập hào, cát hung không nhất định xảy ra ngay trong ngày. Thời gian chỉ thị có thể chịu ảnh hưởng của tháng và năm.

Ba, sự thành bại của một việc, Nhật lệnh là đề án, Nguyệt lệnh là biểu quyết. Ví như trong một đơn vị, muốn khai trừ một nhân viên, phó thủ trước đưa ra, vài phó thủ đồng ý. Đến khi Nguyệt lệnh là nhất thủ trưởng vỗ bàn, mới có thể định xuống.

Bốn, Nhật thần có thể sinh khắc tất cả hào trong quẻ. Hào động, hào vượng được Nhật sinh thì càng vượng, bị Nhật khắc thì giảm lực; hào tĩnh bị Nhật khắc thì trở thành vô dụng. Bất cứ hào nào khắc chế Nhật thần đều như lấy trứng chọi đá, chính mình chịu thương tổn. Dụng thần, nguyên thần vui mừng được Nhật sinh; kị thần, cừu thần vui mừng được Nhật khắc.

Năm, hào tĩnh đang ở trạng thái vượng tướng mà bị Nhật xung thì là ám động. Giống như người từ trong mộng mới tỉnh, dụ việc đã lộ ra manh mối, cũng có thể dụ việc đang âm thầm làm.

Sáu, hào tĩnh đang ở trong trạng thái hưu tù mà bị Nhật xung thì gọi là Nhật phá, hoàn cảnh bất lợi.

Bảy, hào ở tuần không mà bị Nhật xung thì là xung xuất, hào này không còn luận là không.

Tám, hào bị Nguyệt phá gặp Nhật thần lâm thì gọi là điền thực; gặp Nhật hợp thì là phá chỗ gặp hợp, không luận là phá, chỉ lấy tượng phá, có ý mất rồi lại được, phá rồi lại hợp.

Chín, các hào trong quẻ tương hợp, gặp Nhật thần xung, là hợp chỗ gặp xung, cát hung đoán theo quan hệ với Dụng thần mà định.

Mười, các hào trong quẻ tương xung, gặp Nhật thần tương hợp, là xung trong gặp hợp. Cát hay hung phải phân tích theo quan hệ với Dụng thần mà định.

Mười một, Nhật thần có thể trong trường hợp quẻ thiếu hào động mà bổ khuyết, hình thành tam hợp cục, để phát huy tác dụng của mình. Khi phân tích cần chú trọng Nhật thần đối với hào Thế, Dụng thần, nguyên thần, kị thần mà sinh khắc chế hóa.

Mười hai, Dụng thần khắc Nhật thần, chủ động lấn át, ví như đối nghịch với lãnh đạo; Nhật kiến sinh phù Dụng thần, chủ cao hạ thấp, trên thuận dưới theo, là cát lợi. Nhật kiến gặp hào Dậu trong quẻ, là bạn bè hòa thuận; nếu là tháng hai gặp thì trước tốt sau hại, Mão xung Dậu thành phá hợp, hàng xóm trở mặt.

Mười ba, Nhật kiến sinh hào Tài lại lâm Thanh Long phát động, có người mang tiền đến cửa; nam đoán hôn nhân thì lập tức thành công, nữ phương sẽ mang theo sính lễ phong hậu mà xuất giá.

Mười bốn, Nhật kiến lâm hào Huynh phát động, thì hao phí phá tài, cầu hôn tan rã; nam đoán hôn nhân mà tương khắc nặng thì tất ly hôn. Nếu Nhật kiến là Phụ, thì là cha được tiền, đoán hôn nhân thì không sớm cưới, là tượng muộn hôn; tương khắc nặng thì vợ chồng có khổ ly biệt. Nhật kiến khắc hào Thế, gặp hình cục thì lãnh đạo phải phê bình; Nhật kiến hình chi, chi hình Nhật, chủ khách không tin cậy nhau, nghi kỵ lẫn nhau. Nhật kiến nhập mộ, hành sự chậm trễ; khắc cha trưởng bối thì có tai ương; khắc hào trạch thì gia trạch không yên; khắc giờ thì kinh hoảng lo lắng.

Trên luận cần kết hợp với cụ thể quẻ hào và sự việc được hỏi mà đoán.

Mục lục sách

Mục lục chương

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *