Bài giảng thứ tư — Thời thần

Trong ứng dụng truyền thống của Lục hào, việc sử dụng thời thần không cao, nó đối với việc chiêm một ngày hay một tháng thì tác dụng không lớn. Tuy nhiên, thời thần không phải là vô dụng, trong những tình huống đặc biệt, lại có vai trò quan trọng.

Một: Thời thần giống như Thái tuế, tuy có quyền sinh khắc các hào trong quẻ nhưng nó sẽ không trực tiếp sinh khắc các hào. Nó giống Thái tuế ở chỗ có thể thay đổi ứng kỳ và chỉ dẫn phương hướng vận hành của lực quẻ hào.

Hai: Thời thần không phải là vô dụng. Điểm khác với Thái tuế là Thái tuế chỉ là một lực bên ngoài, còn thời thần thì không chỉ là lực bên ngoài, nó thậm chí có thể xem như một hào để dùng. Cụ thể, khi thời thần nhập quẻ, hoặc thời thần với một hào nào đó trong quẻ có quan hệ xung hợp, thì cho thấy thời thần đã can dự vào. Lúc này, bất kể là xem thành bại hay ứng kỳ, đều phải tham khảo thêm.

Ba: Thời thần có thể xem như là hào thứ bảy trong quẻ hoặc là ngoại ứng. Lực của nó gần giống như lực của hào động, không thể xem nhẹ. Nó tùy theo các hào gần trong quẻ mà thay đổi thuộc tính âm dương vị trí của nó. Nó có tính chất của Tử tôn, nhóm trưởng, hoặc đầu mối. Đôi khi cũng có thể coi thời thần là một loại ngoại ứng mà đoán.

Bốn: Giờ Tý chiêm, cùng ngày thành tam hợp cục sinh ta thì cát, khắc ta thì không tốt. Nếu giờ Tý thủy cưỡi Bạch hổ lâm Huynh Quỷ, phát động tất thành tai họa.

Giờ Sửu chiêm, quẻ gặp Lục hợp, Thanh long, chủ có quý nhân tiến cử. Nếu Sửu gặp Tị lâm Bạch hổ hung hào, chiêm bệnh tất nguy, không qua khỏi đêm. Tý gặp Sửu trợ quẻ thì cát.

Giờ Dần gặp Thân, Dậu, trong nhà tất có người bệnh, cầu danh cầu lợi đều không như ý.

Giờ Mão gặp Thân, Dậu, mộc bị kim khắc, lợi về tạo khí cụ, hoặc trong nhà có thợ mộc làm việc, hoặc việc tương tự.

Giờ Thìn nhập quẻ, là việc cũ ngày hôm qua, tiêu tai giải nạn, lợi khi gặp quý nhân.

Thời thần xung Quan, chủ thăng chức hoặc lãnh đạo đi họp, đi công tác. Chiêm bệnh là Quỷ, gặp nó bất lợi.

Giờ Tị gặp Tý có việc thăng chức, chiêm kiện cáo bất lợi. Gặp hào Phụ mẫu là cha mẹ, có in ấn, đóng dấu. Tị gặp Hợi là hai việc phát động.

Giờ Ngọ xung hào Tài, phụ nữ không ở nhà, hợp Phụ mẫu có người mời tiệc rượu. Thêm Dậu có việc kinh sợ, thêm Hợi là hỏa lâm tuyệt địa, chiêm sự việc bất thành, chiêm bệnh tất tử.

Giờ Thân thuộc kim, gặp Tị là Trường sinh, hôn nhân có thể thành, phụ nữ cũng có thai.

Giờ Dậu gặp Tị, gặp Chu tước, chủ có âm tín, điện thoại đến. Gặp Thanh long thì lợi cầu tài, đánh mạt chược có thể thắng. Gặp quý nhân thì thích hợp gặp quý nhân.

Giờ Tuất gặp Dần, Mão, Thìn, có tiệc rượu vui. Gặp Bạch hổ lâm thì chân có bệnh.

Giờ Hợi thủy gặp Bạch hổ, Chu tước, Câu trần, cần cẩn thận tranh tụng, kiện cáo.

Thời thần sinh Nhật kiến, Tử tôn hưng vượng. Thời thần lâm hào Tử tôn trong quẻ, nếu bị Nhật Nguyệt xung khắc, thì con cái nhiều tai ương hoặc có đứa không sống. Thời thần cùng Nhật kiến đưa hào vào quẻ, Tử tôn bất hiếu, Phụ mẫu về già cô độc.

Tổng luận:

Cần kết hợp quẻ cung để chiêm đoán. Thông tin mà quẻ cung tiết lộ thêm sẽ càng ứng nghiệm. Như giờ Thân gặp Tị trong quẻ, nếu quẻ cung lại là Khôn, nữ chiêm thì dễ thụ thai.

Cần kết hợp hào Thế, Dụng thần, Lục thần để đoán. Như “giờ Thìn nhập quẻ, việc cũ ngày hôm qua, tiêu tai giải nạn, lợi gặp quý nhân.” Nếu hào Thìn lâm Dụng thần và Câu trần, thì ứng nghiệm.

Cần kết hợp hào động để đoán. Như “giờ Tị gặp Tý có việc thăng chức,” nếu hào Quan lâm Tý phát động, tất chủ thăng tiến.

Mục lục sách

Mục lục chương

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *